6/09/2012
Tác giả Ngô Đình Nhu
|
Phần IV
MỘT LẬP TRƯỜNG THÍCH HỢP VỚI CÁC NHẬN XÉT TRÊN
Trong
một phần trên chúng ta đã phân tích các sự kiện lịch sử để
tìm hiểu vấn đề mà dân tộc chúng ta cần giải quyết trong
giai đoạn này. Trong một phần khác, chúng ta đã kiểm điểm
những cái vốn mà chúng ta có thể sử dụng được cũng như những
món nợ mà chúng ta phải mang khi chúng ta nỗ lực giải quyết
vấn đề đã nhìn thấy.
Trong
phần dưới đây, chúng ta sẽ làm một công việc hoàn toàn khác.
Trong hai phần trên đây, chúng ta đã dựa trên những sự kiện
lịch sử không ai phủ nhận được để phân tích các biến cố phức
tạp hiện nay, mong soi thấu các đường canh và các sợi chỉ
chính yếu đã dệt ra tình trạng hiện tại của dân tộc. Trong
phần dưới đây, chúng ta lại điều hợp những tính chất mà
chúng ta đã rút ra được từ trong khối sự kiện đã được phân
tích, đối với mỗi lĩnh vực của dĩ vãng dân tộc, để tìm xây
dựng một đường lối hành động và một phương pháp giải quyết
vấn đề mà chúng ta đã nhìn thấy.
Nhiều
khía cạnh của đường lối hành động và nhiều yếu tố của phương
pháp giải quyết đã được đề cập đến rải rác trong nhiều đoạn
suy luận trên.
Dưới đây
chúng ta cũng sẽ nhắc trở lại trong một cái nhìn tổng hợp để
làm thành một toàn bộ chủ trương trong các lĩnh vực của đời
sống quốc gia.
Chúng ta
đang ở trong trường hợp của một người vừa xem xong một cuốn
phim tả một phần dĩ vãng của dân tộc trong đó những sự kiện
bên ngoài và bên trong đều được phân tích với ít nhiều chi
tiết. Vì thế cho nên khi phim ngừng lại ở hình chót, nghĩa
là ở tình trạng hiện tại của quốc gia, chúng ta đã nhận thức
được tất cả các nguyên nhân đã cấu tạo vấn đề hiện tại của
dân tộc.
Chúng ta
có thể nghĩ rằng, tìm được nguyên nhân cố nhiên là giải
quyết được vấn đề, cũng như nhà Y học tìm được căn bệnh, là
chữa được bệnh.
Nhưng
bản chất của đời sông là phức tạp. Đời sống của quốc gia lại
còn phức tạp hơn nữa, bởi vì quốc gia hay bất cứ một tập thể
nào, là trường hoạt động không phải của một người, hay của
một nhóm người, mà là của toàn dân, là của tất cả các phần
tử của tập thể. Do đó phản ứng của tập thể khó mà đoán được.
Vì vậy mà nhiều nhà lãnh đạo đã bị những biện pháp độc tài
cám dỗ. Chúng ta không lựa con đường dễ đó bởi vì chúng ta
tin tưởng ở hai điều mà không ai có thể phủ nhận được.
Sự hiểu
biết của chúng ta về vấn đề dân tộc đã được đặt trên căn bản
vững chắc của sự kiện lịch sử.
Đời sống
của một tập thể do định luật thăng bằng động tiến của vũ trụ
chi phối. Thăng bằng động tiến giữa những yếu tố đối chọi
nhau ngay trong nội bộ, thăng bằng động tiến giữa những
quyền lợi của tập thể và quyền lợi của cá nhân, thăng bằng
động tiến giữa những điều kiện bên trong và điều kiện bên
ngoài.
Trên căn
bản khách quan đó, chúng ta sẽ tìm minh định mt thái độ mà
chúng ta tin rằng thích nghi nhất vi vấn đề hiện tại cần
phải được giải quyết của dân tộc. Một thái độ đối với vn đề
của một dân tộc, đương nhiên bao gồm đủ các lĩnh vực. Chúng
ta lần lượt xem qua các lĩnh vực lãnh đạo, quần chúng, kinh
tế và quyền sở hữu, và văn hóa.
Vấn đề lãnh đạo
Bộ máy
lãnh đạo của một quốc gia được ấn định bởi chính thể lựa
chọn. Sự lựa chọn chính thể lại tùy thuộc ở quan niệm về vấn
đề lãnh đạo. Khối Cộng Sản và khối Tự Do, ngày nay khác
nhau, trên phương diện hình thức, ở chỗ một bên chủ trương
chính thể Độc tài đảng trị, một bên chính thể Dân chủ pháp
trị. Nhưng, trong căn bản, sự khác nhau không phải về hình
thức bên ngoài đó. Bởi vì hình thức đó chỉ là biểu lộ bên
ngoài của một sự khác nhau về quan niệm lãnh đạo. Khối Tự Do
quan niệm một sự lãnh đạo căn cứ trên sự thuyết phục để
hướng dẫn quần chúng. Khối Cộng Sản quan niệm một sự lãnh
đạo căn cứ trên sự cưỡng bách để hướng dẫn quần chúng. Khối
thứ nhất chú trọng đến với trạng thái thăng bằng động tiến
giữa quyền lợi ngắn hạn của cá nhân trong tập thể và quyền
lợi dài hạn của tập thể, bởi vì lý do của đời sống là một
sự việc của cá nhân mà điều kiện của đời sống, là một
điều kiện tập thể. Khối thứ nhì chỉ chú trọng đến quyền
lợi dài hạn của tập thể bởi vì, trong một giai đoạn lịch sử,
các nhà lãnh đạo tin rằng sự sống còn của tập thể bị đe dọa
và đòi hỏi sự hoàn toàn hy sinh các quyền lợi cá nhân cho
tập thể. Một điều mà chúng ta nên ghi nhớ là sự lựa chọn
quan niệm lãnh đạo này hay quan niệm lãnh đạo kia đều do
những sự kiện lịch sử thực tế quyết định chớ không phải do
những quan điểm triết lý trừu tượng.
Trong
một giai đoạn nào đó của lịch sử một dân tộc, sự thăng bằng
động tiến giữa những quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể
bị phá vỡ, bởi những yếu tố kích thích hoặc nội bộ hoặc bên
ngoài đưa đến. Thăng bằng bị phá vỡ, đời sông của tập thể
tiếp tục trên những căn bản giả tạo cho đến khi nào thăng
bằng động tiến được tái lập.
Quan niệm lãnh đạo
Chúng ta
đã biết là ngay trong những thời kỳ bình thường của cộng
đồng, duy trì trạng thái thăng bằng động tiến giữa quyền lợi
ngắn hạn cá nhân của các phần tử của cộng đồng và quyền lợi
dài hạn của cộng đồng, đã là một công việc rất khó khăn, đòi
hỏi một sự lãnh đạo nhiều sáng suốt, nhiều khéo léo và thấu
triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng. Sự phát
triển của cộng đồng sẽ được bảo đảm nếu những nỗ lực duy trì
trạng thái thăng bằng động tiến thành công.
Trong
những thời kỳ khủng hoảng của cộng đồng, trạng thái thăng
bằng động tiến chẳng những ở vào một trạng thái bấp bênh gia
tăng mà lại còn bị đe dọa phá vỡ bởi những yếu tố khuynh đảo
do hoàn cảnh lịch sử tạo nên. Sự tiến hóa của cộng đồng bị
ngưng trệ. Nếu chúng ta lại lấy hình ảnh của hệ thống người
cỡi xe đạp và xe đạp trên kia, thì những thời kỳ khủng hoảng
của cộng đồng tương đương với những lúc mà tốc độ của hệ
thống giảm đi vì những lý do nội bộ của hệ thống: xe đạp
bỗng ngừng hoặc người cỡi đã mệt mỏi, hay vì những lý do bên
ngoài: tình trạng của con đường hoặc sự lưu thông trở nên
khó khăn. Dầu sao, vì những lý do ngoài ý muốn của hệ thống,
thăng bằng của hệ thống bị đe dọa và hệ thống sắp ngã.
Các yếu
tố khuynh đảo trạng thái thăng bằng động tiến có thể phát
sinh từ trong nội bộ, ví dụ những cuộc xáo trộn mà Tây
phương phải đương đầu, khi chính mình vừa phát minh những kỹ
thuật sản xuất kỹ nghệ.
Các yếu
tố khuynh đảo có thể từ bên ngoài đưa đến, ví dụ những cuộc
ngoại xâm mà nước Tàu đã dành cho chúng ta trong tám thế kỷ
liên tiếp. Nghĩa là từ ngày lập quốc, trạng thái thăng bằng
động tiến của xã hội chúng ta lúc nào cũng bị sự đe dọa phá
vỡ bởi một cuộc xâm lăng của nước Tàu. Do đó, sự tiến hóa
trong lịch sử đã qua, của dân tộc chúng ta không hùng mạnh
và chưa được vượt lên đến trình độ sáng tạo, góp phần vào
văn minh nhân loại. Và tình trạng nặng nề ấy sẽ mãi mãi đè
nặng và kìm hãm sự phát triển của dân tộc cho tới ngày nào
mà chúng ta, như Lý Thường Kiệt và Nguyễn Huệ đã nuôi ý chí,
tiêu diệt được sự đe dọa xâm lăng của Trung Hoa.
Các yếu
tố khuynh đảo có thể đồng thời vừa từ bên ngoài đưa đến, vừa
phát sinh từ trong nội bộ, ví dụ như cuộc tấn công của Tây
phương vào các quốc gia của xã hội Đông Á bắt buộc các quốc
gia này phải vừa đương đầu với Tây phương, vừa Tây phương
hóa các cơ cấu xã hội của mình.
Đương
nhiên là trường hợp thứ ba này là trình độ trầm trọng nhất
mà các cuộc khủng hoảng của một cộng đồng có thể đạt tới.
Trong hoàn cảnh đó, sự duy trì trạng thái thăng bằng động
tiến, hoặc sự tái lập một trạng thái thăng bằng động tiến đã
bị phá vỡ, đòi hỏi một sự lãnh đạo phi thường. Nếu một sự
lãnh đạo tương tự không có, cộng đồng bất hạnh, sẽ bị ngưng
trệ trong sự tiến hóa, hoặc miễn cưỡng tiếp tục một sự tiến
hóa phiến diện, chỉ chú trọng đến một vài khía cạnh của toàn
bộ vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng, nhưng đòi hỏi
một sự tiêu hao vô bờ bến đối với sinh lực của cộng đồng, và
lưu lại những hậu quả tai hại nặng nề cho nhiều thế hệ trong
tương lai. Tất cả các cuộc cách mạng đẫm máu, kể cả cuộc
cách mạng của Pháp năm 1789 và của Nga năm 1917, đều thuộc
vào trạng thái thăng bằng động tiến được tái lập. Sau cách
mạng 1789, mãi cho đến sau chiến tranh Pháp-Đức năm 1870,
nước Pháp mới tái lập được trạng thái thăng bằng động tiến
đã mất. Sau cách mạng 1917, mãi đến ngày nay, nước Nga vẫn
chưa tái lập lại được trạng thái thăng bằng động tiến đã
mất.
Trong
hình ảnh hệ thống người cỡi và xe đạp, sự trạng thái thăng
bằng động tiến bị phá vỡ tương đương với sự mất thăng bằng
của người cỡi. Cộng đồng tiếp tục một sự tiến hóa miễn cưỡng
trên những căn bản giả tạo, phí phạm nhiều sinh lực để thâu
thập những thành quả phiến diện, cũng tương đương với người
cỡi xe đạp gắng sức đẩy chiếc xe đạp không còn dùng được, để
đưa toàn bộ hệ thống người và xe vượt một đoạn đường. Kết
quả thâu thập được không tương đương với sự phí sức rất
nhiều, bởi vì một trạng thái thăng bằng sống đã được thay
thế bằng một trạng thái thăng bằng chết.
Nước Anh
và nước Mỹ là những cộng đồng quốc gia điển hình, nhờ một sự
lãnh đạo sáng suốt, đã chiến thắng được những yếu tố khuynh
đảo phát sinh từ nội bộ cũng như bên ngoài đưa vào, nhưng
trong những thời kỳ khác nhau, và duy trì trạng thái thăng
bằng động tiến cho xã hội trong nhiều thế kỷ. Nguồn gốc
chính yếu của sức mạnh hiện tại của hai cường quốc trên là
sự kiện đó.
Nước
Pháp và nước Đức là hai quốc gia khác, trong xã hội Tây
phương, cũng đã phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng
đồng loại với những cuộc khủng hoảng của hai quốc gia Anh và
Mỹ. Cả hai nước Pháp và Đức đều thắng được các yếu tố nội bộ
mà không thắng được các yếu tố ngoại lai. Trạng thái thăng
bằng động tiến bị phá vỡ trong một thời gian ngắn nhưng đã
được tái lập. Tuy nhiên sự lãnh đạo quốc gia vẫn còn chịu
ảnh hưởng của một sự gián đoạn trầm trọng.
Nước
Nhật là một quốc gia điển hình, nhờ một sự lãnh đạo phi
thường, đã thắng được những yếu tố khuynh đảo vừa nội bộ vừa
bên ngoài, cùng lúc tác động đồng thời, và duy trì trạng
thái thăng bằng động tiến mặc dầu xã hội phải thay thế nhiều
giá trị tiêu chuẩn.
Nước Nga
là một quốc gia ngoài xã hội Tây phương, đã phải ứng phó với
một cuộc khủng hoảng đồng loại với cuộc khủng hoảng của
Nhật. Nhưng các nhà lãnh đạo Nga đã thắng được các yếu tố
bên ngoài mà không thắng được các yếu tố nội bộ. Vì những
biện pháp áp dụng để đương đầu với cuộc khủng hoảng đã phá
vỡ trạng thái thăng bằng động tiến của xã hội, và đặt ra
những căn bản giả tạo cho một sự tiến hóa phiến diện. Và
ngày nay, sau gần nửa thế kỷ chính quyền độc tài đảng trị
khủng khiếp của Cộng Sản, trạng thái thăng bằng động tiến
của xã hội Nga vẫn chưa tái lập.
Chúng ta
đã thấy trong các giai đoạn trên, hai sự kiện chứng minh cho
điều này. Trước hết là các nhà lãnh đạo Nga Sô đang lần lần
và một cách dè dặt thay thế các giá trị tiêu chuẩn chiến
lược giai đoạn, và đương nhiên giả tạo bằng những giá trị
chiến lược khác thích nghi với di sản tinh thần của văn minh
nhân loại, mục đích để tái lập trạng thái thăng bằng động
tiến của xã hội, đã bị cách mạng phá vỡ. Sự kiện thứ hai là
bộ máy lãnh đạo của Nga Sô, căn cứ trên những tiêu chuẩn giả
tạo của chế độ độc tài đảng trị, đương nhiên bất lực trong
sự chuyển quyền điều hòa mỗi khi cần phải thay đổi người
lãnh đạo.
Như các
đoạn trên đã trình bày, cộng đồng quốc gia Việt Nam đang ở trong một thời kỳ khủng
hoảng đồng loại với những khủng hoảng trước đây của Nhật và
của Nga. Cuộc khủng hoảng của Việt Nam lại còn trầm trọng
hơn vì những yếu tố khuynh đảo nội bộ phát sinh từ thời gian
gần một thế kỷ thuộc Pháp và những yếu tố khuynh đảo bên
ngoài do cuộc tranh chấp giữa Tây phương và Cộng Sản đưa
đến. Vì vậy cho nên, quan niệm lãnh đạo dẫn dắt đến hình
thức chính thể, rất quan trọng cho sự bảo vệ trạng thái
thăng bằng động tiến cho cộng đồng trong những thời kỳ bình
thường, càng trở nên vô cùng thiết yếu trong một thời kỳ
khủng hoảng như của chúng ta hiện nay.
Trong
trường hợp Việt Nam, không thể đặt vấn đề quan niệm lãnh đạo
và chính thể mà không đề cập đến vấn đề Cộng Sản được, vì
chính là nhân danh quan niệm lãnh đạo Cộng Sản mà cuộc tương
tàn đã diễn ra trên mảnh đất này từ hai mươi năm nay.
Vì những
lý do nào mà có một số người lãnh đạo chủ trương rằng quan
niệm lãnh đạo Cộng Sản thích nghi cho hoàn cảnh khủng hoảng
của cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay?
Trước
hết chúng ta sẽ nhắc lại, trong một cái nhìn bao quát, những
điều đã được rải rác trình bày trong các phần trên, liên
quan đến sự phát sinh của thuyết Cộng Sản ở Âu châu, đến các
điều kiện đã biến một lý thuyết, do Tây phương tạo ra, thành
một lợi khí của Nga Sô để chống lại Tây phương và đến hoàn
cảnh lịch sử nhờ đó thuyết Cộng Sản được nhập cảng vào Á
châu và vào Việt Nam. Sau đó, chúng ta sẽ nhắc lại những kết
quả phân tích sự kiện lịch sử, cũng rải rác trong các phần
trên, khả dĩ giúp cho chúng ta vượt trên các yếu tố phức tạp
đã dệt thành hoàn cảnh hiện tại của Cộng đồng dân tộc, suy
luận để nhìn thấy và tìm xem những lý do, đã khiến cho quan
niệm lãnh đạo Cộng Sản xâm nhập chính trường Việt Nam, có
một giá trị như thế nào, đi với quyn lợi của dân tộc,
trong một giai đoạn quyết định như giai đoạn này.
Thuyết Cộng Sản phát sinh
Sau khi
khoa học Tây phương đã phát minh những kỹ thuật sản xuất kỹ
nghệ, thì những lực lượng mới này đã làm cho hệ thống phân
phối tài sản quốc gia của xã hội Tây phương đương thời, tổ
chức trên căn bản thủ công nghệ và nông nghiệp, không còn
hiệu lực nữa. Vì vậy cho nên những cuộc xáo trộn chấn động
liên tiếp đã làm lung lay đến tận nền tảng các cơ cấu xã hội
Tây phương. Các yếu tố khuynh đảo nội bộ phá hoại cơ thể và
gây cho xã hội Tây phương một cơn bệnh trầm trọng.
Nhiều
giải pháp được đề nghị, trong đó giải pháp xây dựng trên một
công trình nghiên cứu thực tế lịch sử chính xác và phong
phú, và được quần chúng hưởng ứng vì đã phát sinh từ những
căn bản quan sát thiết thực đối với tình trạng xã hội đương
thời. Giải pháp này chủ trương thay đổi, bằng một cuộc cách
mạng bạo động kiểu 1789 của Pháp, hoàn toàn các cơ cấu của
xã hội cũ, tiếp nhận những giá trị tiêu chuẩn mới, để xây
dựng một xã hội mới thích nghi với các lực lượng sản xuất kỹ
nghệ, trong đó sự phân phối tài sản của cộng đồng sẽ được
thực hiện một cách hợp lý. Những mục tiêu đề ra, đương nhiên
có một mãnh lực hấp dẫn cao độ đối với quần chúng, vì hứa
hẹn nhiều sự bảo đảm cho quyền lợi ngắn hạn của cá nhân.
Tuy
nhiên, các nhà lãnh đạo Tây phương đã đủ sáng suốt để nhìn
thấy rằng giải pháp Cộng Sản chỉ chú trọng đến các khuyết
điểm cần chỉnh đốn của xã hội Tây phương lúc bấy giờ, và do
đó đã phủ nhận các giá trị tiêu chuẩn đã trở thành di sản
của văn minh nhân loại, và thay thế bằng những giá trị tiêu
chuẩn giả tạo, kết quả của một công trình suy luận lý
thuyết, tuy có phong phú nhưng vẫn là của con người trong
một thế hệ. Vì nhược điểm đó cho nên phương thuốc đề nghị để
chữa bệnh cho xã hội Tây phương, thay vì có hiệu lực của một
linh dược, sẽ trở thành một độc dược chẳng những phá hoại
nền tảng của xã hội còn hơn cả chứng bệnh lúc bấy giờ, mà
lại còn có thể tiêu diệt tất cả di sản của văn minh nhân
loại trong mấy nghìn năm.
Vì quyền
lợi dài hạn của cộng đồng, các nhà lãnh đạo Tây phương đã từ
chối một phương thuốc độc hại, và vừa nỗ lực tìm những
phương thuốc khác cho xã hội Tây phương, vừa chiến đấu ác
liệt để loại trừ một độc dược đã lợi dụng một thời kỳ khủng
hoảng của cộng đồng, xâm nhập vào cơ thể xã hội. Và ngày
nay, trong công cuộc này, sự thành công của Tây phương đã rõ
rệt. Tây phương đã tìm được những phương pháp khả dĩ giúp
cho xã hội thâu nhận được những lực lượng sản xuất mới mà
vẫn duy trì được trạng thái thăng bằng động tiến. Và đương
nhiên, khi xã hội đã lành mạnh, quần chúng Tây phương cũng
không còn hưởng ứng thuyết Cộng Sản nữa, vì nhu cầu không
còn nữa, đối với một phương thuốc đã được đề nghị như là một
linh dược, để trị một chứng bệnh đã lành. Sự phát triển hùng
mạnh của xã hội Tây phương ngày nay là một bằng cớ hiển
nhiên và hùng biện.
Thuyết Cộng Sản biến thành lợi khí của nước Nga
Chúng ta
còn nhớ rằng giữa Nga và Tây phương có một cuộc chiến đấu
trường kỳ đã kéo dài từ nhiều thế kỷ. Và từ khi công cuộc
Tây phương hóa nước Nga thành công, dưới thời Đại Đế Pierre cho đến phân nửa đầu
của thế kỷ 19, thắng thế đã ngã về Nga. Và quân lực và ngoại
giao của Nga đã nhiều lần đóng một vai trò quyết định trên
chính trường Âu Châu. Nhưng cuộc cách mạng kỹ nghệ của Tây
phương vào thời kỳ phân nửa sau của thế kỷ 19, đã đưa kỹ
thuật của Tây phương vượt hẳn kỹ thuật của Nga và làm
nghiêng cán cân lực lượng về Tây phương một lần nữa. Sự thua
kém Tây phương về kỹ thuật càng rõ rệt, sau khi quân lực của
Nga, năm 1905 bị thảm hại trước quân lực của Nhật, một quốc
gia ngoài xã hội Tây phương vừa thực hiện xong giai đoạn đầu
của công cuộc phát triển dân tộc bằng cách Tây phương hóa.
Như thế,
vào thời kỳ vài chục năm đầu của thế kỷ 20, vấn đề đặt ra
cho các nhà lãnh đạo Nga rất minh bạch. Những sự kiện lịch
sử nghiêm khắc đặt các nhà lãnh đạo này vào một tình thế bắt
buộc họ phải tái bản công trình Tây phương hóa nước Nga của
Đại Đế Pierre để bảo đảm tương lai
của dân tộc. Tuy nhiên, những kinh nghiệm đã qua trong cuộc
chiến đấu trường kỳ với Tây phương, cũng như trình độ phát
triển đại quy mô của kỹ thuật Tây phương lúc bấy giờ, tất cả
các yếu tố đó, đều đòi hỏi cho công cuộc Tây phương hóa kỳ
này, ở các nhà lãnh đạo, một kế hoạch toàn diện, đại quy mô,
tương xứng với hoàn cảnh lịch sử và vị trí quốc tế của nước
Nga, cũng như những phương tiện vĩ đại, để huy động toàn lực
của dân tộc. Như thế, vấn đề đã rõ rệt, cuộc cách mạng năm
1917 của Nga biểu lộ ý chí của các nhà lãnh đạo Nga, đạt một
mục đích dân tộc: phát triển dân tộc bằng cách Tây phương
hóa.
Sở dĩ
mục đích thật sự và dân tộc
của
cuộc Cách mạng Nga năm 1917 bị hoàn toàn che lấp dưới cái áo
quốc tế của cuộc cách mạng xã hội thế giới, mà các nhà lãnh
đạo Nga Sô tuyên bố chủ trương để đánh đổ Tư Bản Chủ Nghĩa,
là vì, trong lần Tây phương hóa này, ngoài những kỹ thuật
vật chất của Tây phương, nước Nga, với một thâm ý chiến lược
vô cùng sắc bén, đã thâu nhận làm lợi khí tranh đấu một lý
thuyết, sản phẩm tinh thần của Tây phương mà Tây phương đã
từ bỏ: thuyết Cộng Sản. Ngày nay chúng ta cũng đang mục
kích, Trung Cộng tái diễn tấn tuồng phất cờ cách mạng xã hội
thế giới chống Đế quốc để tạo hoàn cảnh thuận lợi phục vụ
công cuộc phát triển dân tộc riêng của nước Tàu.
Chúng ta
đã nhận định, trong một đoạn trên, những sự kiện nào đã dẫn
dắt các nhà lãnh đạo Nga Sô đến chỗ thâu nhận một chủ nghĩa,
ngoại lai, như Chủ Nghĩa Cộng Sản, hoàn toàn chống lại
truyền thống văn minh của dân tộc Nga.
Trước
hết, các nhà lãnh đạo Nga Sô, ý thức hoàn cảnh nghiêm khắc
của công cuộc phát triển của Nga. Công cuộc phát triển này,
cũng như công cuộc phát triển của Trung Cộng ngày nay, đương
nhiên sẽ gây ra nhiều phản ứng thù nghịch. Vì vậy cho nên sử
dụng được những biện pháp huy động quần chúng đến mức tối
đa, đối với họ là một nhu cầu thiết yếu. Quan niệm lãnh đạo
Độc tài đảng trị của thuyết Cộng Sản đáp ứng vào nhu cầu nói
trên.
Các cuộc
xáo trộn xã hội, vào thời kỳ đó ở Tây phương, là những sự
kiện tự nó hùng biện, chứng minh rằng xã hội Tây phương lúc
bấy giờ, không thích nghi với các lực lượng sản xuất mới. Xã
hội Nga, vào cùng một thời kỳ, lại còn lạc hậu hơn xã hội
Tây phương, thì đương nhiên sẽ không thích nghi với các lực
lượng sản xuất mới mà công cuộc phát triển dân tộc bắt buộc
sẽ thâu nhận. Như thế thì, tổ chức xã hội Nga theo kiểu mẫu
xã hội mà thuyết Cộng Sản đề nghị chẳng những là có tác dụng
thích nghi hóa xã hội này với các lực lượng sản xuất mới, mà
lại còn là, trong con mắt các nhà lãnh đạo Nga Sô, đi trước
Tây phương một đoạn đường, nghĩa là đã thắng Tây phương trên
phương diện tổ chức xã hội.
Điều bất
ngờ cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản ngày nay là, Tây phương
lấy đức tính chính xác của kỹ thuật khoa học, thám cứu các
biểu lộ, thực tế của đời sống, đã tìm được và thực hiện được
một hình thức xã hội thích nghi với các lực lượng sản xuất
mới. Trong khi đó, xã hội Nga Sô tổ chức theo kiểu mẫu của
xã hội Cộng Sản, chỉ căn cứ trên kết quả suy luận lý thuyết
của những bộ óc, tuy là khác thường, nhưng vẫn là của con
người còn đang mò mẫm tìm trạng thái thăng bằng cần thiết
cho cộng đồng. Sự kiện Nga Sô đang lần lần thay đổi các giá
trị tiêu chuẩn càng xác nhận căn bản lý thuyết và giả tạo
của kiểu mẫu xã hội Cộng Sản.
Các cuộc
xáo trộn xã hội ở Tây phương lúc bấy giờ còn bộc lộ ma lực
hấp dẫn của thuyết Cộng Sản đối với quần chúng Tây phương.
Các nhà lãnh đạo cuộc cách mạng Nga Sô năm 1917 đương nhiên
nhìn thấy thực trạng chính trị đó.
Và trong
khuôn khổ cuộc chiến đấu ác liệt giữa Nga và Tây phương, sự
Nga thâu nhận lý thuyết Cộng Sản làm lý thuyết tranh đấu,
đương nhiên sẽ biến quần chúng Tây phương thành những đồng
minh cho Nga, nội tuyến ngay trong lòng địch. Trong thực tể,
các đảng Cộng Sản địa phương trong các quốc gia Tây phương,
đều đã đóng, ít hay nhiều, vai trò đồng minh nội tuyến cho
Nga Sô.
Chúng ta
vừa nhận xét các sự kiện phát sinh từ tình trạng nội bộ của
Tây phương và của Nga, đã biến lý thuyết Cộng Sản của Tây
phương, thành trong tay Nga Sô một thứ khí giới tinh thần
sắc bén, hơn cả bất cứ thứ khí giới kỹ thuật tối tân nào của
Tây phương đã phát minh, khả dĩ giúp cho Nga Sô tấn công
hiệu quả Tây phương, vừa từ bên ngoài vào, vừa trong nội bộ
phát ra.
Thuyết Cộng Sản nhập cảng vào Á Châu và Việt Nam
Tuy
nhiên, đối với nhà lãnh đạo Nga Sô, thuyết Cộng Sản còn là
một lợi khí tranh đấu, có một tác dụng không kém hiệu lực
trong một phạm vi khác của cuộc tranh đấu vĩ đại giữa Nga Sô
và Tây phương.
Như
chúng ta đã thấy trong một đoạn trên, khi giai đoạn hiện tại
của cuộc tranh đấu giữa Nga Sô và Tây phương mở màn, vị trí
của Tây phương rất là hùng mạnh. Tây phương đã chinh phục
gần hết thế giới, thuộc địa của Tây phương nằm khắp các lục
địa và các đại dương. Quân lực của Tây phương trấn cứ các
yếu điểm chiến lược trên địa cầu, kỹ thuật của Tây phương đã
vượt đến một cao độ đáng sợ và khắc phục được một cái đà
phát triển vừa vững chắc vừa nhiều sinh lực. Trước một địch
thủ, mà khả năng và uy thế đã bao trùm thế giới, vượt xa
khỏi địch thủ thời Đại Đế Pierre, đương nhiên các nhà lãnh
đạo Nga không thể mong chiến thắng bằng một chiến lược cổ
truyền giới hạn trong phạm vi quốc gia. Nhu cầu chiến lược
bắt buộc các nhà lãnh đạo Nga Sô đưa khuôn khổ của cuộc
chiến đấu lên đến ranh giới hoàn cầu, nếu họ muốn tránh cho
Nga một cuộc bao vây ác nghiệt và một thảm bại ngay lúc chưa
ra quân.
Vì vậy
cho nên, Nga Sô đã sử dụng lý thuyết Cộng Sản làm một tín
hiệu tập hợp, khả dĩ qui tụ trong một mặt trận quốc tế, dưới
sự lãnh đạo của Nga Sô, tất cả các kẻ thù của Tây phương lúc
bấy giờ trên thế giới, để làm hậu thuẫn cho Nga Sô. Trong
cuộc chiến đấu vĩ đại chống Tây phương, mà mục đích vẫn là
công cuộc phát triển cho dân tộc Nga.
Chúng ta
có thể so sánh những nỗ lực lúc bấy giờ của Nga Sô với những
nỗ lực hiện tại của Trung Cộng, để thành lập một mặt trận
quốc tế qui t các quốc gia chưa mở mang để hậu thuẫn cho
công cuộc phát triển cho dân tc Tàu.
Tuy
nhiên, mưu toan của Nga Sô để qui tụ các kẻ thù lúc bấy giờ
của Tây phương là một việc. Nhưng sự hưởng ứng của các quốc
gia đã bị Tây phương tấn công và biến làm thuộc địa hay bán
thuộc địa là một việc khác. Vậy, vì những lý do nào mà các
nước này hưởng ứng lời kêu gọi và qui tụ dưới sự lãnh đạo
của Nga Sô?
Lúc bấy
giờ, đã từ hơn bốn trăm năm Tây phương đã tấn công hầu hết
các quốc gia ngoài xã hội Tây phương và đã từ gần một trăm
năm đã chinh phục hầu hết thế giới. Các quốc gia bị tấn
công, sau khi đã hết sức mình kháng chiến trong nhiều thế
hệ, lần lần đã đi đến chỗ phải nhìn nhận tính cách vô hiệu
quả của cuộc chiến đấu giữa những lực lượng vô cùng chênh
lệch. Vận dụng toàn diện khả năng nghinh chiến của một quốc
gia để chống lại một kẻ thù đã bao vây thế giới là một chiến
cuộc không có hy vọng thành công. Vì thế cho nên, đối với
các nhà lãnh đạo của quốc gia đã bị chinh phục, lời kêu gọi
đồng minh của Nga Sô có hiệu lực mở một lối đi cho một tình
thế đã bế tắc. Đồng minh với Nga Sô là đưa cuộc chiến đấu
giải thoát quốc gia lên cương vị một cuộc chiến đấu quốc tế
có nhiều khả năng bảo đảm cho sự thành công.
Tác dụng của lý thuyết Cộng Sản
Như thế
thì, chính là điều kiện gian lao của một cuộc chiến đấu
giành độc lập đã đưa một số các nhà lãnh đạo các quốc gia Á
châu bị Tây phương chinh phục, đến chỗ đồng minh với Cộng
Sản. Và nhà lãnh đạo Cộng Sản của Việt Nam cũng ở vào trường
hợp đó.
Tuy
nhiên, có nhiều nhà lãnh đạo Á châu mà quốc gia cũng đã bị
Tây phương chinh phục, đã sáng suốt nhìn thấy, vừa thâm ý
chiến lược của Nga Sô, vận dụng một mặt trận quốc tế để hậu
thuẫn cho công cuộc phát triển của dân tộc Nga, vừa những
căn bản giả tạo của thuyết Cộng Sản, đã từ chối một sự đồng
minh với Nga Sô trên nguyên tắc qui phục lý thuyết Cộng Sản.
Cân nhắc lợi hại, các nhà lãnh đạo này, đã quyết định chọn
một con đường khác hơn con đường Cộng Sản, trong công cuộc
tranh giành độc lập và sau đó trong công cuộc phát triển dân
tộc. Các biến cố lịch sử sau Đại Thế Chiến thứ hai, mà chúng
ta đã có nhắc đến, xác nhận quan điểm sáng suốt của những
nhà lãnh đạo như Gandhi và Nehru của Ấn Độ.
Ấn Độ và
nhiều quốc gia khác ở Á châu, và ngoài Á châu đã khai thác
mâu thuẫn giữa Nga Sô và Tây phương để thâu hồi độc lập hoàn
toàn, một cách không tiêu hao cho sinh lực dân tộc. Và chúng
ta đã thấy một đoạn trên, rằng chính là sự đồng minh với
Cộng Sản của một số nhà lãnh đạo của chúng ta, đã làm cho
công cuộc tranh giành độc lập của chúng ta trở thành vô cùng
tiêu hao cho sinh lực của dân tộc. Những sự hy sinh cao cả
của các phần tử của cộng đồng không bao giờ phủ nhận được,
cũng như không phủ nhận được tính kiêu hùng của dân tộc
trong các cuộc chiến đấu ác liệt với kẻ thù.
Tuy
nhiên, các nhà lãnh đạo lúc nào cũng phải tự đặt cho mình
nghiêm luật không bao giờ có quyền phí phạm sinh lực của
cộng đồng, mỗi khi quyền lợi của cộng đồng bắt buộc phải sử
dụng đến.
Vả lại,
độc lập vẫn chưa phải là mục đích. Và sinh lực của dân tộc
còn cần thiết hơn bội phần cho công cuộc phát triển đang chờ
đợi chúng ta. Và lý do thứ nhì để cho các nhà lãnh đạo các
quốc gia Á châu thâu nhận thuyết Cộng Sản do Nga Sô chủ
trương lại chính là công cuộc phát triển dân tộc bằng cách
Tây phương hóa sau khi độc lập đã được thâu hồi.
Thuyết
Cộng Sản quả quyết rằng chỉ có phương pháp độc tài đảng trị
mới có đủ khả năng huy động quần chúng để cung cấp những nỗ
lực cần thiết cho một công cuộc phát triển cộng đồng. Và
thuyết Cộng Sản cũng quả quyết rằng chỉ có xã hội tổ chức
theo kiểu của thuyết Cộng Sản đề nghị mới thích nghi với các
lực lượng sản xuất của kỹ nghệ. Vậy thì mọi công cuộc phát
triển dân tộc bằng cách Tây phương hóa phải áp dụng phương
pháp độc tài Đảng trị và phải xây dựng xã hội theo kiểu mẫu
Cộng Sản.
Chúng ta
đã phân tích, với chi tiết, tác dụng của thuyết Cộng Sản,
trong giai đoạn chiến đấu giành độc lập đã qua, của chúng
ta, đối với sự thống trị của đế quốc. Đối với sự chi phối và
thống trị của nước Tàu, đã đè nặng lên đời sống của dân tộc
trong hơn tám trăm năm, gián đoạn trong một trăm năm, ngày
nay lại tái hiện và đe dọa hơn bao giờ, chúng ta cũng đã
vạch rõ những hậu quả tai hại, mà sự qui phục thuyết Cộng
Sản, của các nhà lãnh đạo Bắc Việt, sẽ lưu lại cho thế hệ
tương lai. Một điều mà chúng ta phải ghi nhớ, trong khuôn
khổ của vấn đề quan trọng này, liên quan mật thiết đến vận
mạng của dân tộc, là thâm ý chiến lược của Nga Sô trước đây
và thâm ý chiến lược đồng loại của Trung Cộng ngày nay. Đối
với hai quốc gia này, thuyết Cộng Sản và các mặt trận quốc
tế phục vụ cho thuyết Cộng Sản, đều là những lợi khí sắc bén
để phục vụ, trước hết và trên hết, mục đích phát triển dân
tộc của hai nước.
Trong
phạm vi phát triển dân tộc, chúng ta đã thấy rằng nếu hoàn
cảnh phát triển vô cùng nghiêm khắc của những quốc gia to
lớn, như Nga và Tàu, thuyết minh cho một sự đổi những kết
quả, mà phương pháp độc tài Đảng trị có thể mang đến trong
hiện tại, với những hậu quả tai hại, chưa ai biết đến mức độ
nào, mà chính phương pháp đó sẽ lưu lại cho nhiều thế hệ
trong tương lai, thì trái lại, một nước nhỏ như Việt Nam, có
thể thực hiện được công cuộc phát triển của mình bằng những
phương pháp không tiêu hao sinh lực của dân tộc. Đã như thế
thì, các nhà lãnh đạo tranh đấu cho dân tộc, đương nhiên
phải chọn đường lối dẫn đến mục đích mà không phí phạm sinh
lực của cộng đồng.
Sau hết,
câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: xã hội tổ chức theo kiểu mẫu
Cộng Sản có phải là xã hội thích nghi nhất với các lực lượng
sản xuất mới do kỹ thuật khoa học phát minh không? Tôn trọng
một thái độ mà chúng ta đã chấp nhận từ đầu, chúng ta sẽ tự
ý không đi vào một cuộc tranh luận lý thuyết về tính cách
thích nghi hay không thích nghi của xã hội Cộng Sản đối với
các lực lượng sản xuất mới; vả lại, thời gian hãy còn quá
sớm để cho chúng ta có thể, căn cứ trên những sự kiện thực
tế, phán đoán về tính cách thích nghi nói trên. Trong thế
giới hiện nay, chưa có một xã hội nào, đã kỹ nghệ hóa được
tổ chức theo kiểu mẫu Cộng Sản, để chúng ta có thể lấy đó
làm tiêu chuẩn so sánh. Và kiểu mẫu này vẫn là một kết quả
suy luận lý thuyết.
Tuy
nhiên, những nhận xét dưới đây, đối với các sự kiện thực tế
mà chúng ta đang mục kích, có thể làm sáng tỏ vấn đề.
Trong
thế giới hiện tại, hình thức tổ chức xã hội gần nhất với
kiểu mẫu của thuyết Cộng Sản, đương nhiên là hình thức tổ
chức xã hội của Nga Sô. Chúng ta đã thấy trong nhiều đoạn
trên, rằng bộ máy lãnh đạo của Nga Sô vẫn bất lực trong việc
chuyển quyền ôn hòa mỗi khi cần phải thay đổi người lãnh
đạo. Sau gần nửa thế kỷ, những biện pháp độc tài vẫn còn cần
thiết để duy trì trật tự chứng tỏ rằng trạng thái thăng bằng
nội bộ vẫn chưa tái lập. Về phương diện xã hội, sự Nga Sô
đang thay thế nhiều tiêu chuẩn giá trị bằng những tiêu chuẩn
giá trị mà thuyết Cộng Sản đã loại bỏ, lại chứng tỏ rằng Nga
Sô còn đang nỗ lực tái lập trạng thái thăng bằng nội bộ cần
thiết cho sự phát triển của cộng đồng. Một mặt khác, sự thay
thế các giá trị tiêu chuẩn Cộng Sản, bằng những giá trị tiêu
chuẩn được phục hồi, lại chứng tỏ tính cách lý thuyết của
các căn bản của thuyết Cộng Sản. Tất cả các sự kiện trên lại
chứng tỏ rằng xã hội Nga Sô hiện nay vẫn tiếp tục một tình
trạng thăng bằng giả tạo.
Trong
khi đó, xã hội Tây phương, vì bất lực trong công việc thâu
nhận các lực lượng sản xuất mới, hồi thế kỷ 19, nên đã được
đề nghị thay thế bằng xã hội Cộng Sản, chẳng những đã tìm
được những phương pháp khả dĩ cho phép sự thâu nhận được lực
lượng sản xuất mới, mà lại còn duy trì trạng thái thăng bằng
động tiến cho cộng đồng. Và nhờ đó mà sự phát triển hùng
mạnh vẫn được bảo đảm. Hình thức xã hội Cộng Sản là một kết
quả suy luận lý thuyết, khi được mang đưa áp dụng ở Nga Sô,
đã chứng tỏ không thích nghi với thực tế, nên đã đặt các nhà
lãnh đạo Nga Sô ngày nay vào những lối bế tắc, lúng túng mà
chúng ta đã biết. Hình thức hiện nay của xã hội Tây phương
là kết quả của một cuộc thám cứu, bằng lý trí chính xác của
kỹ thuật khoa học Tây phương, những biểu lộ thực tế của đời
sống. Vì thế cho nên hình thức xã hội này thích nghi với
thực tề.
Nhưng
ngoài Tây phương, cũng có nhiều hình thức xã hội khác, không
tổ chức theo kiểu mẫu Cộng Sản, vẫn thích nghi với những lực
lượng sản xuất mới đã thâu nhận sau một công cuộc phát triển
dân tộc bằng cách Tây phương hóa.
Sinh lực
dồi dào của xã hội Nhật ngày nay là một bằng chứng hùng
biện.
Các sự
kiện thực tế trên đây, tuy không trực tiếp liên quan đến
tính cách thích nghi hay không của xã hội Cộng Sản đối với
các lực lượng sản xuất mới, nhưng vì những thực trạng mà nó
phản ảnh, đã làm cho câu hỏi nêu lên trên đối với xã hội
Cộng Sản trở thành vô ích.
Phản tác dụng
Như thế
thì, vấn đề đã rõ, trong trường hợp của cộng đồng quốc gia
Việt Nam, những tác dụng mong mỏi ở thuyết Cộng Sản, khả dĩ
thuyết minh cho sự qui phục của các nhà lãnh đạo Bắc Việt,
đối với lý thuyết này, trở thành vô hiệu lực. Ngược lại, như
chúng ta đã thấy ở nhiều đoạn trên, một sự qui phục thuyết
Cộng Sản sẽ mang đến nhiều phản tác dụng tai hại cho dân
tộc.
Tất cả
các sự kiện mà chúng ta đã phân tích trong các trang của tập
sách này, đều chứng minh rằng mục đích cuối cùng của mọi
cuộc tranh đấu, là quyền lợi của dân tộc. Nga Sô cũng như
Trung Cộng khi nỗ lực, lập những mặt trận quốc tế phục vụ
cách mạng xã hội thế giới, đều có chủ định phục vụ trước hết
và trên hết dân tộc Nga và dân tộc Tàu.
Sự qui
phục thuyết Cộng Sản sẽ đương nhiên, biến sự đe dọa, thống
trị của nước Tàu đối với Việt Nam,
thành thực tế.
Chúng ta
đã biết chính sách xâm lăng của Trung Hoa đối với Việt Nam là một chính sách liên tục và
bất biến của tất cả các chế độ của Trung Hoa vì nó phát sinh
từ một nhu cầu đất đai cần thiết cho sự phát triển của Trung
Hoa. Mang phương pháp độc tài Đảng trị của Cộng Sản, cũng
như phương pháp độc tài nào khác để lãnh đạo quần chúng, thì
theo một cơ thức mà chúng ta đã biết, quần chúng sẽ phản ứng
bằng cách hướng về bất c cá nhân hay tập thể nào phất cờ
giải phóng để che đậy thâm ý xâm lăng của mình. Trong điều
kiện đó, các nhà lãnh đạo Cộng Sản áp dụng phương pháp độc
tài đảng trị ở Việt Nam, sẽ đương nhiên tạo hoàn cảnh thuận
lợi cho Trung Cộng xâm chiếm Việt Nam lúc thời cơ đưa đến.
Nói một
cách khác, phương pháp lãnh đạo độc tài Đảng trị sẽ suy
nhược hóa sức đề kháng của dân tộc đối với kẻ xâm lăng. Hùng
mạnh như nước Nga, mà trong trận chiến chống quân Đức, cũng
đã suýt phải thảm bại, bởi vì quần chúng phẫn uất với chế độ
độc tài Đảng trị của Staline, đã nổi lên đồng minh với Đức.
Chỉ có sự vụng về và chính sách kỳ thị chủng tộc của Đức
quốc xã mới không khai thác được cơ hội trên, và cứu Nga Sô
khỏi họa xâm lăng.
Trong
tình thế chính trị chúng ta đang mục kích, sự qui phục
thuyết Cộng Sản của các nhà lãnh đạo Bắc Việt, tự nó là một
sự thần phục Trung Cộng, như các triều đại xưa của chúng ta
thần phục Trung Hoa. Và sự thống trị bằng lý thuyết của
Trung Cộng đối với Bắc Việt ngày nay, nếu không có các trở
lực quốc tế, sẽ bội phần ác nghiệt hơn các sự thống trị mà
nước Tàu đã dành cho chúng ta từ gần một ngàn năm.
Sự qui
phục thuyết Cộng Sản sẽ đương nhiên gắn liền vận mạng công
cuộc phát triển dân tộc của chúng ta vào vận mạng công cuộc
phát triển dân tộc của Trung Hoa. Chúng ta đã phân tích hoàn
cảnh phát triển thuận lợi của Việt Nam.
Vậy gắn
liền công cuộc phát triển của Việt
Nam
vào công cuộc phát triển của Trung Cộng là bỏ một hoàn cảnh
thuận lợi để đi rước một hoàn cảnh vô cùng khó khăn.
Mặc dầu
các nỗ lực vĩ đại, cuộc phát triển của Trung Cộng khó mà
thành công. Như vậy, gắn liền công cuộc phát triển của Việt
Nam
vào công cuộc phát triển của Trung Cộng có nghĩa là chúng ta
tự ý bỏ công cuộc phát triển của chúng ta. Trong công cuộc
phát triển bằng cách Tây phương hóa hiện nay mà các dân tộc
đều nỗ lực thực hiện, chúng ta có những điều kiện vật chất
lẫn tinh thần, để thành công hơn Trung Cộng, như chúng ta đã
chứng minh trong một đoạn trên. Nếu chúng ta lại bỏ cơ hội
này để thần phục Trung Cộng thì, một là chúng ta sẽ không
phát triển được bởi vì Trung Cộng không phát triển được, hai
là Trung Cộng phát triển được, thì chúng ta sẽ phát triển
được đến mức hạng ba hay hạng nhì, vì chúng ta học lại kỹ
thuật của một người đi học kỹ thuật của Tây phương.
Sau hết,
trong hơn một ngàn năm từ ngày lập quốc, sự chi phối của
Trung Hoa đối với Việt Nam nặng nề cho đến đỗi tâm lý thuộc
quốc bao trùm mọi lĩnh vực đời sống của dân tộc. Tâm lý đó
bắt nguồn từ hai sự kiện: tự ty mặc cảm đối với Trung Hoa vĩ
đại, và sự lệ thuộc của chúng ta đối với văn hóa Tàu. Tình
thế ngày nay là một cơ hội duy nhất để cho chúng ta thực
hiện ý chí, của Lý Thường Kiệt và Nguyễn Huệ, cởi cái ách
tâm lý thuộc quốc cho dân tộc. Nếu chúng ta lỡ cơ hội, sự lệ
thuộc của dân tộc đối với Trung Hoa sẽ kéo dài nhiều ngàn
năm nữa và cái khối Trung Hoa vĩ đại, của các lãnh tụ Cộng
Sản, sẽ mang đến cho dân tộc cái họa diệt vong. Và sự qui
phục thuyết Cộng Sản sẽ đương nhiên dọn đường cho dân tộc
Việt Nam lệ thuộc văn hóa mới của Trung Cộng. Những lời ca
tụng Trung Hoa vĩ đại của miền Bắc, những điệu nhạc âm thanh
Trung Cộng của đài phát thanh Hà Nội, những điệu vũ hòa
bình, và những y phục theo Tàu, tất cả các sự kiện đó, đều
là những biểu lộ thiết thực của một sự lệ thuộc văn hóa càng
ngày càng sâu đậm của miền Bắc đối với Trung Cộng, bởi vì
các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt đã chấp nhận một sự lệ
thuộc tư tưởng.
Chỉ nghĩ
đến cái viễn ảnh ngàn năm lệ thuộc Trung Cộng mà các nhà
lãnh đạo Cộng Sản miền Bắc đang sửa soạn cho dân tộc, chúng
ta cũng phải khiếp đảm, thoáng nhìn vận mạng cực kỳ đen tối
cho các thế hệ tương lai.
Trong
vấn đề quan niệm lãnh đạo, chúng ta không thể dành cho quan
niệm lãnh đạo Cộng Sản, ít chỗ hơn như chúng ta vừa làm
xong. Bởi vì, như chúng ta đều biết, hiện nay chủ nghĩa này
đang hoành hành ở Á châu, để phục vụ sự phát triển của dân
tộc Tàu, với một cường độ độc hại không kém gì cường độ độc
hại của nó ở Âu châu, hồi cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20,
để phục vụ cho sự phát triển của dân tộc Nga, và chính ở
Việt Nam, vì chủ nghĩa Cộng Sản hoạt động mà cuộc chiến đấu
giành độc lập của chúng ta đã vô cùng tiêu hao sinh lực dân
tộc, mà xảy ra tình trạng chia đôi đất nước, mà chiến tranh
tàn phá cái vốn nhân lực và tài nguyên của chúng ta từ hai
mươi năm nay.
Và khi
nào như hiện nay, chúng ta đã nhìn thấy nguồn gốc của chủ
nghĩa Cộng Sản, nhìn thấy những nguyên nhân sâu xa của sức
mạnh của nó, nhìn thấy những điểm tựa trên đó nó đang lấy
sinh lực ở Á châu, nhìn thấy lý do vì sao nó đã bắt đầu suy
nhược ở Tây phương và nhìn thấy những hậu quả tai hại nó sẽ
mang đến cho dân tộc Việt Nam, thì chúng ta mới nhìn thấy,
một cách minh bạch, trách nhiệm của thế hệ chúng ta là phải
vận dụng tất cả nỗ lực, mà chúng có thể cung cấp, để loại
trừ độc dược đó ra ngoài cơ thể của cộng đồng dân tộc.
|



No comments: