TỦ SÁCH 6/04/2012
Hoàng kim Loan đã
khai những cơ sở bí mật của hắn trong Phật Giáo tại Huế như sau:
- Thích Đôn Hậu
Thích Đôn Hậu trụ
trì chùa Thiên Mụ, là Chánh Đại Diện Phật GiáoẤn Quan miền Vạn Hạnh
(Miền
Trung). Cơ sở Tôn giáo Vận, được Hoàng Kim Loan tổ chức từ trước năm
1963.
Chùa Thiên Mụ là một
trạm giao liên nội thành rất quan trọng của cơ quan Thành ủy Huế trong
suốt thời gian Thích Đôn Hậu trụ trì chùa này cho đến Mậu Thân 1968, khi
Thích Đôn Hậu thoát ly ra Bắc.
Trong Tết Mậu Thân
1968, Thích Đôn Hậu được Hoàng Kim Loan giao chức vụ: Phó Chủ tịch Lực
lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà Bình. Sau Mậu Thân, Thích Đôn Hậu ra
Hà Nội được Trung ương đảng Cộng Sản bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch phái đoàn
đại diện cho quần chúng, Tôn Giáo, trí thức miền Nam công du một số nước
Cộng sản như Trung Cộng, Tây Tạng vv... để cổ võ, tuyên truyền cho Hà
Nội.
Theo Hoàng Kim Loan,
nếu không có vụ Mậu Thân 1968, thì trong năm đó Thích Đôn Hậu cũng sẽ
thoát ly ra Bắt để tham gia vào phái đoàn, vì chính Hoàng Kim Loan hắn
đã nhận được chỉ thị chuẩn bị kế hoạch để đưa Thích Đôn Hậu rời khỏi Huế
ra Hà Nội thì xảy ra biến cố Mậu Thân. Sau 1975, Thích Đôn Hậu trở về
lại Chùa Thiên Mụ và giữ chức Chủ tịch Phật Giáo quốc doanh.
- Thích Trí Quang
Cư ngụ chính thức
tại Chùa Từ Đàm, từ trước 1963. Đảng viên Côïng Sản, gia nhập Đảng Cộng
sản vào 1949. Người kết nạp là Tôn Thất Lành tự Tố Hữu. Lời khai của
Hoàng kim Loan phù hợp với tiết lộ của Tố Hữu vào năm 2000 tại Hà Nội,
chính y là người kết nạp Thích Trí Quang vào đảng Cộng Sản. Tố Hữu cũng
nói thêm:
"Sau 1963 Thích Trí Quang có ngỏ ý xin Trung Ương Đảng cho tạm
nghỉ một thời gian để có thì giờ chấn chỉnh nội bộ Phật Giáo Ấn Quang,
nhưng lời yêu cầu đó không được Trung ương đảng chấp thuận."
Tố Hữu còn
có nhận xét về Trí Quang:
'Vào lúc đó uy tín và ảnh hưởng của ông
Bồng [Trí Quang]
đối với quần chúng nhất là tín đồ Phật Giáo quá lớn, ông
ta nghĩ không cần đảng nữa, ông ta muốn thiết lập một chế độ Giáo quyền
tại miền Nam, mà trong đó ông đóng vai 'Quốc Phụ'.
Và lời khai của
Hoàng Kim Loan cũng phù hợp với tài liệu của Sở Mật Thám Pháp còn lưu
giữ tại trung tâm Văn khố của BCH Cảnh Sát Thừa Thiên Huế:
Thích Trí Quang là
cán bộ Cộng Sản, là Đảng viên Cộng Sản. Hoàng Kim Loan xác nhận hắn
không phải là Cán Bộ điều khiển của Thích Trí Quang. Trước 1963 cán bộ
điều khiển của Thích Trí Quang là Thượng Tá Lê Câu, chỉ huy Truởng màng
lưới điệp báo từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam. Sau 1963 ai
là cán bộ điều khiển Trí Quang thì Hoàng Kim Loan không rõ, hắn chỉ được
lệnh phối hợp hành động với Thích Trí Quang trong vụ đảo chánh 1963, và
vụ biến động Miền Trung vào tháng 6/1966.
- Nguyễn Khắc Từ,
viên Bí Thư của Thích Trí Quang.
Cũng theo Trung Tá
Việt Cộng Hoàng Kim Loan khai báo:
Cơ quan Tình Báo
Chiến lược của Cộng Sản Hà Nội đã bố trí một nhân vật tình báo cao cấp
của bọn chúng bên cạnh Thích Trí Quang, với vai trò là Bí Thư cho Thích
Trí Quang, đó là tên Nguyễn Khắc Từ. Nguyễn Khắc Từ được cơ quan Tình
Báo Chiến Lược Việt Cộng giao nhiệm vụ:
1- Theo dõi và kiểm
soát mọi hành động của Thich Trí Quang.
2- Cán bộ giao liên
giữa Thích Trí Quang và Cụm Tình Báo Chiến lược Hà Nội
3- Cán bộ Giao liên
giữa Thích Trí Quang và Trung Tá Cộng Sản Hoàng Kim Loan.
4- Quan Sát, theo
dõi, và thiết lập hồ sơ chuyển về cơ quan Tinh Báo Chiến lược những
thành phần ''Tốt'' trong hàng Sĩ Quan
[Phải là cấp Đại Úy trở lên]
thuộc
Sư Đoàn I Bộ Binh để cơ quan này tuyển mộ hoạt động cho bọn chúng.
5- Công chức trong
chính quyền VNCH tại Thừa Thiên Huế
[Phải là cấp Trưởng Ty trở lên].
6- Phân loại Sinh
viên của Đại học Huế đang giữ chức vụ đại diện các phân khoa, và một số
thành phần quan trọng trong Tổng Hôị Sinh Viên Đại Học Huế. Một số giáo
Sư Đại Học và Trung học ở Huế. Tất cả các đối tượng Quân Đội, Công
chức, Giáo sư, Sinh Viên kể trên đều tham gia và nằm trong các lực lượng
dấy loạn miền Trung vào năm 1966 của Trí Quang và Trung Tá Cộng sản
Hoàng Kim Loan.
7- Phân loại và
thiết lập hồ sơ các thành phần Đại Đức, Thượng Tọa, của Phật Giáo Ấn
Quang miền Vạn Hạnh tại Huế.
8- Các thành phần
chủ chốt của các khuôn hội Phật Giáo từ cấp Quận trở lên Từ sau 1963 đến
1966, Nguyễn Khắc Từ với vai trò là Bí Thư của 'Quốc Phụ' Thích Trí
Quang, hắn trở thành nhân vật đầy quyền uy thứ 2 của Phật Giáo Ấn Quang
miền Trung. Trong thời gian này từ Tư Lệnh Quân Đoàn, Tư lệnh Sư Đoàn,
đến hàng sĩ quan cấp tá, các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng, Trưởng Ty Cảnh
Sát tại miền Trung trong phong trào tranh đấu, muốn diện kiến Trí Quang
để xin chút ân huệ Trí Quang ban cho, đều phải qua tay của Nguyễn Khắc
Từ mới có kết quả. Đối với hàng Phật giáo đồ tại miền Trung, hắn là một
nhân vật biểu tượng gương mẫu của một người đạo đức tu hành, suốt đời hy
sinh tranh đấu cho cho đạo pháp bị 'lâm nguy'. Thế nhưng, sau ngày 30
tháng 4 năm 1975, Phật Giáo đồ tại Huế, quí Đại Đức,Thượng Tọa, các bậc
tu hành chân chính đã phải kinh hoàng khi thấy Nguyễn Khắc Từ lộ nguyên
hình là tên Cán bộ Việt Cộng cao cấp, và hắn là Phó Trưởng Ban Tôn Giáo
của Mặt Trận Tổ Quốc thuộc Thành Ủy Sài Gòn. Nằm vùng quá lâu trong
Phật Giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh, là con rận Việt Cộng nằm trong áo Cà
Sa của Quí thầy, hắn đã phân loại từng nhân vật, từ các Thượng Tọa, Đại
Đức, đến các thành phần trưởng các khuôn hội Phật Giáo, các Huynh Trưởng
Gia Đình Phật Tử của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Bây giờ Nguyễn Khắc
Từ nguyên là viên Bí thư và là cánh tay mặt của Thích Trí Quang là Phó
trưởng Ban Tôn Giáo của Mặt trận Tổ Quốc Thành Ủy Sàigòn sau ngày
30/4/1975. Thử hỏi Tăng Ni và Phật Tử làm sao chịu nổi những đòn phép
mà hắn và Đảng Cộng Sản Việt Nam tung ra để tiêu diệt Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất.
Nhớ lại vào tháng
6/1966 khi Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Lực Lượng CSQG Thừa Thiên-Huế
dẹp loạn Tranh đấu Miền Trung của Thích Trí Quang, tôi đã bắt Nguyễn
Khắc Từ.
- Nguyễn Khắc Từ
chắc hẳn ông vẫn còn nhớ rõ??? Tình báo Chiến Lược Cộng Sản Việt Nam
thả con rận độc Nguyễn Khắc Từ vào nằm trong áo cà sa của quí thầy trong
bao nhiêu năm cùng với Thích Trí Quang và Trung Tá Cộng Sản Tình Báo
Chiến Lược Hoàng Kim Loan, để cầm nắm lèo lái Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất theo ý muốn và mưu đồ của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Thế
nhưng bọn chúng quên một điều: Ở cõi đời này có luật thừa trừ 'Vỏ quít
dày, vẫn còn có móng tay nhọn.'.
Con rận độc Nguyễn
khắc Từ vào tháng 6/1966 cũng đã bị cấy vào người một chất Sinh tử phù
cực độc. Nguyễn khắc Từ, chắc ông vẫn chưa quên ai là Cán Bộ Điều Khiển?
Hãy dừng tay lại
ngay lập tức, Nguyễn Khắc Từ, tên phản bội, tên Việt Cộng nằm vùng trong
Phật Giáo. Đừng tưởng rằng sau 1975, Chính phủ VNCH không còn nữa, Cảnh
sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế đã bị xoá tên thì chất độc Sinh tử phù sẽ
không còn tác dụng. Lầm lớn rồi Nguyễn khắc Từ, đồng ý, miền Nam đã
không còn trong tay người Quốc Gia, nước mất, nhà tan, thân phận lưu
lạc, chúng tôi những kẻ đã bị chôn, nhưng chưa chết. Nếu tôi phá vỡ
nguyên tắc, bạch hoá hồ sơ, thì chính ông là kẻ chưa chết, nhưng sẽ bị
chôn, hậu quả như thế nào chắc ông hiểu rõ hơn tôi nhiều.
'Báo nhận hiểu và
thi hành' đi, Nguyễn Khắc Từ, tên Việt Cộng nhơ nhớp, bẩn thỉu, hơn loài
cầm thú.
- Thích Chánh Trực
Tu tại Chùa Tường Vân
Ngôi chùa nằm phía sau đồi Quảng Tế. Ngôi chùa
này chính là nơi tu đạo của Ngài Đại Lão Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết,
Giáo Chủ Phật Giáo Việt Nam thống nhất.
Thích Chánh Trực có
nét mặt và dáng dấp của một tên thảo khấu giang hồ, nhưng lại có tài ăn
nói, hùng biện, thu hút quần chúng. Thích Chánh Trực là cánh tay mặt và
là truyền nhân của Thích Trí Quang, cũng là sơ sở quan trọng của Hoàng
Kim Loan trong công tác Tôn Giáo Vận. Mọi cuộc biểu tình của Phật giáo
tổ chức, chống đối chính quyền, hắn là nhân vật chính, hướng dẫn, xách
động. Thích Chánh Trực là Đảng viên Cộng Sản do Hoàng Kim Loan kết nạp.
Hoàng Kim Loan còn
khai, có một khoảng thời gian sau Mậu Thân, vì tình hình an ninh quá
căng thẳng, trong thành phố Huế không còn là nơi an toàn cho hắn trú ẩn,
vì lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế tổ chức hành quân Cảnh Sát liên miên,
lục soát bất chợt. Hoàng Kim Loan đã được Thích Chánh Trực đưa vào trú
ngụ với y tại chùa Tường Vân, khoảng trên một năm. Hoàng Kim Loan phát
giác Thích Chánh Trực đã có dan díu với một nữ tín đồ và có một đứa con
trai với người này. Cũng theo Hoàng Kim Loan, bản chất tên này hung ác,
dâm loạn, trẻ không tha, già không bỏ. Có một lần Hoàng Kim Loan bắt
gặp hắn hành lạc với một nữ tín đồ ngay trong phòng của hắn, và chính
Hoàng Kim Loan đã phê bình với Chánh Trực làm như vậy là 'thiếu đạo đức
cách mạng', nhưng hắn vẫn chứng nào tật đó. Hắn thường ăn mặn, không ăn
chay, thức ăn của hắn do các nữ tín đồ tình nhân đem đến chùa cho hắn,
thường là đậu đen được hầm với thịt thái nhỏ, có trời mà biết được hắn
ăn mặn.
- Thích Thiện Siêu
Thích thiện Siêu trụ
trì Chùa Từ Đàm, đảng viên Cộng Sản do Hoàng Kim Loan kết nạp. Một
trong những cơ sở quan trọng Tôn giáo vận của Hoàng Kim Loan. Hắn hoạt
động chìm, có trách nhiệm nghiên cứu các đối tượng ở các khuôn hội Phật
giáo, các phật tử, cung cấp cho Hoàng Kim Loan để tổ chức, kết nạp.
Sau 1975, Thích
Thiện Siêu được Trung ương đảng Cộng Sản tiến cử làm dân biểu Quốc hội.
- Thích Như Ý
Thích Như Ý, trụ trì
chùa Trà Am. Cơ sở Tôn Giáo vận. Hoàng Kim Loan tổ chức và kết nạp y
vào trước 1963. Chùa Trà Am cũng là trạm giao liên ngoại thành của cơ
quan Thành ủy Huế - Huế có hằng trăm ngôi chùa, nhưng có thể nói không
một ngôi chùa nào có cảnh trí thanh nhã bằng chùa Trà Am. Nằm cách núi
Ngự Bình khoảng bốn cây số đường bộ về hướng nam, trong vùng Tứ Ngũ Tây
thuộc quận Hương Thủy. Sau lưng chùa là những đồi thông, một giòng suối
chảy ngang trước mặt chùa, muốn vào chùa phải đi qua chiếc cầu nhỏ bắc
qua giòng suối, những tàn cây cổ thụ cả trăm năm phủ rợp bóng từ cổng
chùa vào đến tận bên trong. Chùa chỉ có hai căn nhà mái ngói rêu phong,
đó là khu chánh điện và nhà hậu trai, đâu đâu cũng đầy hoa thơm cỏ lạ,
phảng phất mùi hương nhẹ nhàng. Nơi đây là một cảnh tiên trong cõi trần
tục. Chùa Long Giáng của Khái Hưng trong Hồn Bướm Mơ Tiên cũng chỉ là
một nét nhỏ của chùa Trà Am. Đã bước vào đây thì mọi phiền lụy trong
cõi hồng trần đều rũ sạch, vậy mà tiếc thay, bọn Việt Cộng lại dùng nơi
đây làm trạm liên lạc, chuyển vận người và dụng cụ về mật khu, ra vào
thành phố Huế, và vị sư trù trì là Thích Như Ý lại là cơ sở của Hoàng
Kim Loan.
Lời khai của Hoàng
Kim Loan làm tôi hồi tưởng lại. Vào mùa hè năm 1970, tôi cũng đã vào
ngôi chùa Trà Am bắt Thích Như Ý và đám cơ sở nội thành Việt Cộng đang
nhóm họp. Vụ này đã tạo cơn bão chính trị lớn tại thành phố Huế, hàng
loạt biểu tình của Phật giáo phản đối chính quyền đàn áp Phật giáo.
Chuyện xẫy ra như sau: Vào khoảng cuối tháng 12/1969, nhiều lần cơ quan
tình báo quân sự Hoa Kỳ CID tại Phú Bài thông báo cho tôi, tại tọa độ...
có điện đài đang phát sóng. Dò trên bản đồ quân sự 1/100,000 thì đó là
địa điểm của Chùa Trà Am. Hai tháng sau đó, vào tháng 2/1970, qua viên
Thiếu tá cố vấn chương trình Phụng Hoàng, CID chuyển cho tôi bốn tấm
không ảnh chụp về đêm phát hiện có một toán nhỏ 3 tên Việt Cộng có vũ
trang, xuất hiện phía sau nhà hậu trai của ngôi chùa. Ảnh chụp rất rõ
ràng. Tôi bàn với Đại úy Trương Công Ân trưởng phòng CSĐB, và sau đó
chúng tôi đã thiết lập một trạm bí mật theo dõi, giám sát hàng ngày ngôi
chùa này, chỉ ban ngày mà thôi, ban đêm toán theo dõi được rút về, vì
đây là khu vực vùng D, vùng xôi đậu, có phần nguy hiểm cho toán theo dõi.
Chỉ không đầy 6 tuần
lễ sau, chúng tôi phát giác có một số cơ sở nội thành Việt Cộng, đang
nằm trong mục tiêu theo dõi của chúng tôi đã lên hội họp tại đây vào
những ngày thứ bảy hoặc chúa nhật, khi mà thiện nam tín nữ thăm viếng
chùa đông đảo. Trung tuần tháng 5/1970, cơ sở chúng tôi trong lực lượng
Học Sinh, Sinh viên Giải Phóng thành phố Huế, báo cho biết sẽ có phiên
họp của đám cơ sở nội thành tại chùa Trà Am. Vào 6 giờ 30 sáng ngày
19-5-1970, tôi đổ 2 trung đội CSDC và khoảng 20 CSĐB bao vây chặn mặt
sau ngôi chùa. Tôi, Đại úy Ân, một số CSĐB và một trung đội CSDC tiến
thẳng vào chùa bằng cổng chính. Có lẽ trong chùa đã biết, nên khi chúng
tôi vừa vào đến sân, thì gặp ngay vị sư Thích Như Ý đang lơ đãng quét lá
vàng vào ban sáng, có ý chặn chúng tôi lại ngay tại đó. Ông làm ra bộ
ngạc nhiên cất giọng hỏi chúng tôi:
- Chào Đại úy, ông
và anh em Cảnh Sát đi đâu sớm vậy mà sao lại lạc vào đây?
- Bạch Thầy, chúng
con không đi lạc, chúng con đang hành quân Cảnh Sát ở vùng này. Bạch
Thầy, con là Đại úy Liên Thành, Trưởng ty Cảnh Sát.
- Tôi biết, vội vàng
chi, mời Đại úy và anh em vào hậu trai uống tí trà vào buổi sáng.
- Cám ơn Thầy, nhưng
anh em đang làm việc.
Tôi đi thẳng vào
ngay vấn đề:
- Thưa Thầy, chiều
qua có một số thanh niên vào chùa, mãi đến tối không thấy trở ra, con
muốn tìm kiếm đám này, vì họ là đám phá rối trị an, cơ sở Việt Cộng.
Ông lạnh lùng nhìn
tôi và nói:
- Đại úy Liên Thành,
ông thấy đó, cảnh chùa vắng vẽ có ai đâu.
Tôi tự nói với mình:
''A di đà Phật, bậc tu hành sao còn nói láo''
- Vâng, sân chùa
vắng vẻ, chẳng có ai, nhưng con nghĩ họ ở trong chùa, vì thế con muốn
thầy cho phép soát trong chùa.
- Ông Trưởng ty muốn
lục soát chùa cũng được, nhưng ông Trưởng ty có giấy cho phép của Thượng
Tọa chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh hay không? Nếu có thì ông Ty
cứ tự nhiên, còn bằng không, thì ông Ty không thể vào lục soát được.
- Thưa Thầy, luật
pháp quốc gia không có quy định nhân viên Công lực khi thi hành phận sự
phải xin phép một tôn giáo nào cả. Bây giờ không phải là năm 1966,
CSQG/Thừa Thiên-Huế phải xin phép, tuân lệnh các thầy. Con xin phép Thầy
chỉ là vấn đề lịch sự, không phải là thủ tục pháp lý.
Ông nhìn tôi và nặng
lời:
- Ông Trưởng ty Liên
Thành là con giòng cháu giống, cháu nội Kỳ Ngoại Hậu Cường Để sao lại
chạy theo Thiệu Kỳ đàn áp Phật Giáo?
- Con không còn nhớ
mình là cháu nội của ai, chỉ biết giờ này là Trưởng ty Cảnh Sát, đang
thi hành phận sự của một nhân viên công lực, yêu cầu thầy đứng qua một
bên đừng cản trở nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ.
Bốn nhân viên Cảnh
sát, hai Đặc biệt, hai Dã chiến, vây ông ta vào giữa. Vừa ngay khi đó
thì đơn vị bọc sau lưng chùa dẫn vào năm thiếu niên và một phụ nữ dáng
dấp chưa đầy ba mươi tuổi. Trung đội trưởng CSDC có nhiệm vụ chặn phía
sau chùa cho biết cả sáu người này từ trong chùa chạy ra thì bị bắt giữ
ngay.
Tôi cho lệnh soát
chùa nhưng dặn anh em phải hết sức cẩn thận. Mục đích lục soát là kiếm
người và tìm điện đài, người đã bắt được rồi. Nhưng điện đài thì thật
khó, vì điện đài là một vật nhỏ nếu không biết vị trí cất dấu chính xác
thì khó mà tìm dược. Sau gần 45 phút tim kiếm điện đài, chúng tôi đành
bỏ cuộc, rời khỏi chùa Trà Am vào hồi 9 giờ sáng, ngày 19-5-1970 mang
theo năm thanh niên một phụ nữ cùng thầy Thích Như Ý và một số tài liệu
trong đó có một bản Nghị Quyết mới nhất của Trung ương Đảng Cộng Sản Hà
Nội, (tôi không còn nhớ đó là bản Nghị quyết số mấy). Tổng Cộng bảy
người, tất cả bị bắt đem về Trung tâm thẩm vấn. 3 giờ chiều cùng ngày,
ngày 19-5-1970, Phật Giáo bắt đầu biểu tình. Đoàn biểu tình rầm rộ kéo
xuống trước Tòa Hành Chánh Tỉnh phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo và
yêu cầu thả người. Tôi liền cho 3 trung đội CSDC tăng cường giữ an ninh
Toà Hành Chánh tỉnh, nhưng không cho lệnh giải tán đoàn biểu tình. Tại
Trung Tâm thẩm vấn, Trung Úy Hồ Lang, Trưởng cơ quan G-4 (Trung tâm thẩm
vấn), cùng anh Trần Vững, Trưởng ban khai thác tin tức, không gặp khó
khăn trong việc thẩm vấn và khai thác tin tức của năm thanh niên và
ngươì phụ nữ kia. Y thị nhìn nhận mục đích buổi họp tối hôm đó tại chùa
Trà Am là để bố trí công tác cho năm cơ sở nội thành, thực hiện một số
mục tiêu phá hoại bằng chất nổ tại một vài cơ sở quan trọng của chính
quyền trong thành phố Huế, và đặt chất nổ tại 2 rạp chiếu bóng, đó là
rạp Ciné Tân Tân ở đường Trần Hưng Đạo và rạp Ciné Châu Tinh tại đường
Chi Lăng quận II thành phố Huế.
Người đàn bà này có
tên là Lê thị Út, cán bộ an ninh cơ quan Thành ủy Huế, đã chuyển vận một
số chất nổ từ mật khu về chùa Trà Am, và đem cất dấu tại khu
nghĩa
trang dưới chân núi Ngự Bình. Đợi sau khi y thị họp xong với năm thanh
niên cơ sở nội thành này, y thị sẽ chỉ chỗ cất dấu chất nổ cho họ đến
lấy và thi hành công tác phá hoại. Đại úy Trương Công Ân, Trưởng phòng
CSĐB, cùng với một toán CSĐB đi cùng y thị đến chỗ cất dấu chất nổ, đã
tịch thu được một số lượng khoảng 6 Kg chất nổ TNT, và 8 ngòi nổ chậm.
Riêng về phần thẩm vấn Thích như Ý thật khó khăn. Hai chuyên viên lỗi
lạc trong ngành thẩm vấn là Trung Úy Hồ Lang, Truởng cơ quan G-4 và anh
Trần Vững, Trưởng ban khai thác tin tức cũng đã phải nao núng. Bởi lẽ
đầu tiên ông ta vẫn mặc y phục của vị tu hành phật giáo, không chịu thay
y phục của tù nhân, điều này đã tạo khó khăn về mặt tâm lý và tôn giáo
không ít cho thẩm vấn viên. Huế sau 1963, ngoài xã hội có bao nhiêu
đảng phái chính trị, bao nhiêu tôn giáo, thì trong lực lượng CSQG /Thừa
Thiên Huế đều có bấy nhiêu, tỷ như: Chi Bộ Cảnh Sát Quốc Dân Đảng, Chi
Bộ Cảnh Sát Đại Việt Cách Mạng, Chi Bộ Cảnh sát Nhân Xã Đảng, Chi Bộ
Cảnh Sát Tân Đại Việt, và nhiều thứ Chi Bộ Cảnh Sát của các đảng phái
khác, thật kể không hết. Cũng may là không có Chi bộ Cảnh Sát đảng Cộng
Sản, nếu có, thì BCH/ Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế đã trở thành Lực lượng
Liên Minh Dân tộc, Hoà Hợp, Hoà giải. Hoa Kỳ, Cộng Sản, và VNCH chẳng
cần tốn thì giờ và bút mực ký hoà đàm Paris làm chi cho mệt...
Về Tôn giáo thì có
Cảnh Sát Phật Tử, Cảnh Sát Công Giáo vv.. Đó là thực trạng đáng buồn
trong BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế sau 1963. Thật khó khăn cho cho tôi trong
việc chỉ huy và điều hành một lực lượng đông đảo trên 5000 nhân viên, có
lẽ vì vậy mà chẳng ai muốn thay thế tôi trong chức vụ Trưởng Ty Cảnh Sát
Thừa Thiên-Huế, và cũng vì thế mà tôi phải ngồi lỳ trong 9 năm trời tại
nhiệm sở này. Không một thẩm vấn viên nào chịu phụ trách thẩm vấn Thích
như Ý. Đưa người này thẩm vấn thì:
- Thưa ông Ty, em
Phật tử, em không dám, xin ông Ty cử người khác.
Giao thẩm vấn viên
khác phụ trách, cũng lại:
- Thưa ông Ty, em Công Giáo, sợ mất lòng bên
anh em Phật giáo.
Tôi nỗi giận:
- Ông nào cũng là
Cảnh sát, cũng là nhân viên công lực, ăn lương chính phủ mà lại từ chối
nhiệm vụ giao phó, tại sao lại đưa Tôn giáo vào nơi này? Ông Công Giáo
sợ ông Phật Giáo. Ông Phật Giáo sợ một tên Việt Cộng đội lốt tu hành.
Được rồi, anh em không làm thì tôi làm.
Tôi thấy ngay trở
ngại đầu tiên là tấm áo nâu sồng khoát trên người một kẻ đã lợi dụng màu
áo nâu tu hành làm vỏ bọc để hoạt động cho Cộng sản, nhưng lại có giá
trị khơi động niềm tin tôn giáo và sự nể trọng các bậc tu hành trong
lòng thẩm vấn viên. Vì vậy phải tháo bỏ tấm áo này thì nhân viên thẩm
vấn mới khỏi lẫn lộn giữa đạo và đời, giữa vị chân tu và kẻ lợi dụng tôn
giáo hoạt động cho địch.
Tôi nói với trưởng
cơ quan G-4, Trung Úy Hồ Lang ý nghĩ của tôi, và yêu cầu anh ta lấy áo
tù, và tôi sẽ phụ trách chuyện này. Tôi vào phòng thẩm vấn gặp Thích
như Ý:
- Nơi này không phải
là chùa Trà Am, mà là Trung tâm thẩm vấn, vì thế tôi yêu cầu ông thay áo
quần can phạm, ông không bằng lòng tôi vẫn phải thay cho ông, đây là thủ
tục bắt buộc.
Miệng nói, tôi tiến
về phía ông với bộ áo quần trên tay. Ông ta có vẽ hoảng hốt:
- Tôi thay... Tôi
thay... Tôi đã đoán đúng tâm lý của ông ta: Mặc dầu ông ta hoạt động
cho Việt Cộng, nhưng bản chất vẫn là một kẻ tu hành, không bao giờ để
thân thể trần truồng trước mắt kẻ lạ, vì thế ông hốt hoảng tự động làm
việc đó mà không cần đến tôi. Tôi bước ra khỏi phòng và chỉ năm, mười
phút sau quay lại, ông ta đã thay xong, mặc bộ đồ đen. Suốt đêm
19-5-1970, Tôi, Ân, trưởng cơ quan G-4 và Trần Vũng, thay phiên nhau
thẩm vấn ông ta. Mãi gần trưa ngày hôm sau, đã quá mệt mỏi không chống
mỗi với chiến thuật xa luân chiến của chúng tôi, và sau khi cho ông xem
lời khai của sáu cơ sở đã bị chúng tôi bắt trong chùa của ông, biết là
khó chối cãi, khi đó ông mới bắt đầu khai rõ mọi hoạt động. Tôi còn
nhớ ông ta ăn nói thô bạo và tục tĩu còn hơn nhân vật sư Lỗ Trí Thâm
trong truyện Thủy Hử của Trung quốc.
Trong đời tôi, đây là lần đầu, tôi
được nghe được những lời chửi rủa, văng tục từ miệng một kẻ tu hành.
tôi ngạc nhiên và xấu hổ. Ông ta lôi từ ông sơ, ông cố của tôi, từ Vua
Gia Long, đến ông nội của tôi là Kỳ Ngoại Hầu Cuờng Để ra chửi. Ông ta
ví mặt tôi và anh em thẩm vấn viên giống như cái đó... của đàn bà, và
là đồ mật thám, chó săn, chạy theo Thiệu, Kỳ đàn áp Phật Giáo. Mỗi lần
ông ta văng tục xong tôi lại hỏi ông:
-'A di Đà Phật', ông
chưởi xong chưa? Sao tu hành mà ăn nói tục tĩu như vậy.
Đây là một câu
chuyện thật về ông Như Ý, ngoài tôi, số anh em thẩm vấn viên đã bị ông
ta chửi tục hiện định cư tại Hoa Kỳ chắc không quên chuyện đó.
Ngày 20-5-1970 lực
lượng Phật Giáo vẫn tiếp tục biểu tình phản đối chính quyền đàn áp Phật
Giáo, và yêu cầu chính quyền thả người. Cũng trong ngày này, tôi nhận
được hai Công điện khẩn cấp, một của Văn phòng Tư Lệnh CSQG, Thiếu Tướng
Trần Thanh Phong, và một của Đại Tá Trưởng Khối Cảnh Sát Đặc Đặc Biệt,
yêu cầu tôi báo cáo tình hình và giải thích nội vụ bắt giữ Thích như Ý.
Tôi đánh điện phúc
trình nội vụ. Tôi cũng đã tiên liệu trước, vụ này sẽ trở thành lớn
chuyện, vì Thích Như Ý có liên hệ gia đình với Thượng Tọa Thích Trí Thủ,
Tổng thư ký Viện Hoá Đạo tại Sàigòn.
Tôi suy nghĩ với
tình hình này, nếu để lâu, nội vụ sẽ là cơ hội tốt cho cho nhóm cơ sở
Việt Cộng nằm vùng trong Phật giáo tạo ra biến động lớn, và sẽ gây nhiều
phiền toái cho chính phủ và nhất là cho chúng tôi. Tôi họp với Ân và
một số anh em Sĩ Quan trong ban tham mưu, đưa ra hai giải pháp để giải
quyết:
1- Lập hồ sơ nội vụ
thật nhanh để giải tòa, hoặc đưa ra Hội Đồng An Ninh Tỉnh với tội danh:
Hoạt động cho Việt Cộng và âm mưu phá rối trị an, và nếu cần họp báo
công bố nội vụ.
2- Thương lượng,
trao đổi trực tiếp, với Giáo Hội Phật Giáo tại Huế. Anh em đều chọn
giải pháp thứ hai. Tiên lễ, hậu binh. Thương lượng trước.
8 giờ tối ngày ngày
21-5-1970, tôi lên Chùa Linh Quang gặp Thượng Tọa
Thích Mật Nguyện với
đầy đủ hồ sơ của Thích như Ý và đồng bọn. Chùa Linh Quang nằm trong khu
vực Từ Đàm, phía sau lăng Cụ Phan Bội Châu.
Thượng Tọa Thích Mật
Nguyện là một vị cao tăng đức hạnh, đối với Phật Giáo đồ và ngay cả
những người ngoại đạo, những ai đã gặp ông đều phải nể trọng, cung kính.
Năm 1968, khi
Thích
Đôn Hậu thoát ly ra Hà Nội, Hoà Thượng Thích Mật Nguyện được Giáo Hội đề
cử vào chức Chánh Đại Diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh
thay thế Thích Đôn Hậu.


No comments: