6/08/2012
Tác giả Ngô Đình Nhu
Phần III
Phần III
Tình
trạng vô tổ chức, của hạ tầng cơ sở nông thôn của chúng ta,
lúc quân Pháp đến, đã là một lợi khí cho họ. Đối với chúng
ta, là một lỗi lầm quan trọng vì nhiều lý do.
Trước
hết, khi Gia Long tức vị thì người Y Pha Nho đã chiếm cứ Phi
Luật Tân từ ba trăm năm. Người Anh và người Pháp đã đổ bộ
lên ấn Độ từ một trăm năm chục năm. Người Hòa Lan và người
Anh giành nhau Nam Dương quần đảo từ một trăm năm. Cả người
Hòa Lan, người Anh và người Pháp tranh giành ảnh hưởng với
nhau tại Thái Lan từ cuối thế kỷ 17. Người Anh đã đánh bạt
người Hòa Lan ra khỏi Mã Lai, và chiếm bán đảo này từ hơn
năm chục năm. Nghĩa là sự tấn công của Tây phương vào các
quốc gia Á châu đã có từ lâu và các vị trí của họ đã bao vây
Việt Nam. Triều Nguyễn không thể không
biết tình trạng đó, nhất là khi chính Gia Long đã liên lạc
chặt chẽ với Tây phương và nhờ kỹ thuật của họ mà chiếm lại
được chính quyền. Gia Long không thể không biết sức mạnh của
kỹ thuật Tây phương và cũng không thể không biết ý chí xâm
lăng của Tây phương khi tình trạng của các quốc gia chung
quanh chúng ta như đã trình bày trên đây.
Như thế
thì, vì lý do gì mà chúng ta không cố tìm cách đoán trước
cái họa xâm lăng đã đến gần một bên?
Trong
nội bộ, những biện pháp quốc phòng không có, đối ngoại,
trong khi những biến cố đang dồn dập xảy ra cho các quốc gia
láng giềng như chúng ta vừa thấy, thì quan niệm ngoại giao
của chúng ta vẫn chật hẹp và đóng cửa như xưa.
Mãi đến
năm 1839, khi người Anh can thiệp bằng võ lực vào nội địa
Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Nha phiến, thì lúc bấy giờ,
Minh Mạng mới ý thức được tình trạng nguy ngập của quốc gia
và vội vã và đột ngột gửi hai phái bộ sang Anh và Pháp.
Nhưng tình thế đã muộn. Vả lại, một phái bộ ngoại giao gửi
đi một cách đột ngột không chuẩn bị, không lót đường, không
thương thuyết sơ khởi, làm sao mang đến kết quả gì?
Và sau
đó, các sự kiện đã dồn dập xảy ra như chúng ta đều biết, và
hai mươi năm sau chúng ta lâm vào ách thống trị của đế quốc.
Các sử
gia thường cho rằng, nguyên nhân của trạng thái không dự bị
của triều Nguyễn đối với họa xâm lăng, và lý do của những
hành động kém sáng suốt trong giai đoạn quyết liệt ấy, là
tâm lý của những người, đã trải qua nhiều đời, thấm nhuần
nho học cho nên, ngoài văn minh Trung Hoa ra, không còn nhìn
thấy có thể có những sự phát triển nào khác cho nhân loại.
Vì vậy cho nên, họ nhất định nhắm mắt trước các sự kiện đang
dồn dập xảy đến. Ngoài lý do trên, sự bị giam hãm trong một
nền ngoại giao cổ truyền chật hẹp, căn cứ trên tâm lý thuộc
quốc đối với Trung Hoa, là một trở lực to tát.
Tâm lý
này bộc lộ ra rõ rệt trong phản ứng của chúng ta lúc bấy
giờ. Trước khi chính Trung Hoa bị tấn công, thì phản ứng của
chúng ta như là không có đối với sự tấn công của Tây phương
vào các quốc gia Á châu láng giềng. Ngược lại sau khi Trung
Hoa bị tấn công, thì lúc bây giờ phản ứng của chúng ta là
vội vã gửi hai phái bộ sang Pháp và Anh, mà không có một sự
chuẩn bị ngoi giao nào cả. Lối gởi phái bộ như vậy là lối
gởi sứ bộ sang Tàu xưa nay. Và sự gởi hai phái bộ sang Pháp
và Anh, theo lối gởi sứ bộ sang Tàu xưa nay, lại càng làm
cho chúng ta nhận thức, một cách rõ rệt hơn nữa, quan niệm
về ngoại giao của chúng ta lúc bấy giờ mang nặng “tâm lý
thuộc quốc”, đến mức độ nào.
Và ngay
trong lúc này, chúng ta đang thừa hưởng cái hậu quả tai hại
của tình trạng chiếm cứ dở dang của chúng ta đối với miền
Nam. Tình trạng vô tổ chức
của làng mạc trong miền Nam, như trên chúng ta đã thấy, là
một tình trạng thuận lợi cho kẻ xâm lăng, nghĩa là cho kẻ
tấn công bao nhiêu, thì bất lợi cho kẻ cố thủ bấy nhiêu.
Trong thời gian kháng cự với Pháp, sự kiện này càng thể hiện
rõ rệt. Quân Pháp tấn công rất dễ vào các làng do quân kháng
chiến kiểm soát, cũng như quân kháng chiến tấn công rất dễ
vào các làng do quân Pháp kiểm soát. Trong khi đó, ở miền
Bắc và miền Trung, sự tấn công của một bên này, vào một làng
do bên kia chiếm giữ là một hành động vô cùng khó khăn.
Và ngay
bây giờ, sở dĩ du kích quân của miền Bắc phá rối dễ dàng các
vùng nông thôn của miền Nam, là
vì theo chiến lược du kích của Mao Trạch Đông, họ đóng vai
trò tấn công vào các làng mạc vô tổ chức, mà chúng ta cố
thủ.
Trong
trường hợp đó, và trước một thực tế hiển nhiên, liên quan
đến sự thiếu tổ chức của chúng ta trong lĩnh vực hạ tầng cơ
sở nông thôn, chúng ta chỉ có thể chặn được du kích ở nông
thôn, nếu, hoặc là, chúng ta không nhận vai trò cố thủ các
làng, xoay chiến lược, để chính chúng ta sẽ tấn công vào các
làng từ những cứ điểm có tổ chức và phòng thủ được, hoặc là,
chúng ta tổ chức các làng trước, rồi mới cố thủ sau.
Sự chiếm
cứ dở dang của chúng ta đối với miền
Nam
lại còn có nhiều ảnh hưởng nặng nề về nhân sinh, về xã hội
và về kinh tế mà chúng ta sẽ nhìn thấy rõ khi xét về hình
thức vật chất các làng của chúng ta từ Bắc chí
Nam.
Hình thức vật chất của làng
Hình thức vật chất của làng
Trước
hết, chúng ta sẽ không vội vã, như phần đông các sử gia và
kinh tế gia của chúng ta, khen ngợi và hãnh diện với tổ chức
làng mạc của chúng ta, mà những người này xem là một sáng
kiến kỳ đặc của dân tộc. Những người này thường ca tụng tính
cách dân chủ trong sự tổ chức tự trị của làng và tính cách
độc lập của làng đối với chính quyền trung ương. Nhưng thật
ra thì, bất cứ dưới triều đại nào của chúng ta, tùy lúc, sự
kiểm soát của trung ương có thể, hoặc chặt chẽ, hoặc nới
rộng, đối với làng mạc. Trong những thời kỳ mà sự kiểm soát
của trung ương chặt chẽ đối với làng thì, công việc hành
chính của làng do một quan viên của trung ương bổ nhậm phụ
trách. Trong những thời kỳ mà sự tự trị của làng được rộng
rãi hơn, thì công việc hành chính do người trong làng đảm
trách. Điều thứ hai là tính cách dân chủ nhận xét ở trong sự
tự trị của các làng chỉ là hình thức tập hợp xã hội thấp
nhất của loài người, mà các bộ lạc nào cũng có.
Chúng ta
tự gạt bỏ các sự kiện trên đây ra một bên, và chỉ chú trọng
đến hình thức vật chất trong sự tổ chức làng, để căn cứ trên
đó mà đo trình độ tổ chức hạ tầng cơ sở của chúng ta, trên
phương diện nhân sinh, xã hội và văn hóa.
Nhận xét
kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng làng chúng ta ở miền Bắc được tổ
chức một cách trù mật: nghĩa là, trong phạm vi lãnh thổ của
làng, vuông rào của làng xây trên một đất hẹp, lại gồm nhiều
nóc gia và dân cư đông đúc. Lối đi và nhà cửa trong làng sắp
xếp như trong một thành phố nho nhỏ, tất cả các cơ sở công
cộng, trường, đình, chùa, công sở, vân vân, đều phục vụ toàn
thể dân làng. Nếp sống tập thể giữa những người trong làng
đó sẽ đương nhiên, và ý thức cộng đồng thành một tập quán
của dân làng. Hai chữ “Làng tôi” khêu gợi một vũ trụ nho
nhỏ, một tập thể trong đó có tôi.
“Làng”
là một đơn vị xã hội sau gia đình, một đơn vị quốc phòng,
hành chánh của quốc gia, và một đơn vị kinh tế cho vùng.
Hình thức này là hình thức nguyên khởi của làng chúng ta, và
chúng ta tìm thấy hình thức nguyên khởi này ở tất cả làng
miền Bắc, Bắc miền Trung, đến Quảng Bình và Quảng Trị.
Các vùng
đó gồm lãnh thổ chúng ta khi mới lập quốc và phần đất đầu
tiên chiếm được của Chàm, năm 1069, dưới thời nhà Lý.
Từ phía
Nam Quảng Trị đến Bình Thuận, hình thức của làng bớt tính
cách trù mật, nghĩa là vòng rào rộng hơn và nhà trong làng
thưa hơn. Sợi dây liên lạc giữa các người trong làng vẫn
còn, nhưng đã giãn ra vì sự chung đụng bớt đi khi con đường
đất dài ra, và tinh thần tập thể, cũng vì đó, mà bắt đầu
nhường chỗ cho một lối sống riêng tư.
Từ Thừa
Thiên đến Bình Thuận, vuông rào của làng càng xuống phía Nam thì càng mở rộng, nhưng sự mở
rộng không vượt quá một giới hạn. Do đó hình thức vẫn được
tôn trọng.
Các vùng
này gồm các đất chiếm được của Chàm dưới triều Trần, và
Nguyễn. Đối với dân làng, tính cách đơn vị xã hội sau gia
đình bắt đầu lỏng lẻo cũng như tính cách đơn vị quốc phòng
đối với quốc gia. Tính cách hành chánh còn nguyên vẹn.
Nhưng
bắt đầu từ Bình Tuy hiện nay, đến miền Đông và các tỉnh Tiền
Giang, thì hình thức trù mật đã bể. Nhà cửa trong làng đã
bắt đầu rải rác, cách nhau thật xa. Vuông rào của làng khi
xưa không còn mà chỉ còn những vuông rào cho một xóm, gồm
nhiều nhà của một giòng họ, hay những vuông rào cho từng nhà
một.
Càng đi
sâu vào phía Nam,
các nóc gia càng cách xa nhau và nhà cửa càng ở rải rác khắp
nơi trong phần đất của làng. Hình thức xưa không còn nữa và
cùng với hình thức xưa nề nếp sống tập thể cũng không còn.
Đối với dân làng, tính cách đơn vị xã hội sau gia đình của
làng không còn nữa.
Đối với
quốc gia, tính cách đơn vị quốc phòng không còn nữa, mà chỉ
còn tính cách đơn vị hành chánh. Các cơ sở công cộng không
còn giúp ích cho toàn thể dân làng nữa vì đường đất đã quá
rộng.
Sang
miền Tây, các cánh đồng bao la của Hậu Giang hoàn toàn nuốt
mất hình thức nguyên khởi của làng Việt
Nam. Trên những khoảng rộng
lớn, hay dọc theo bờ sông và bờ kinh, các nóc gia ở rải rác,
hoặc gom lại từng khóm nhỏ nhỏ, năm ba cái nhà, và chạy dài
đến mươi và vài mươi cây số ngàn. Hai chữ “Làng tôi” chỉ còn
khêu gợi một tổ chức hành chánh có nhiều bức sách.
Lý do
của sự nở dần, đến vỡ tung ra, của hình thức vật chất của
làng chúng ta, từ Bắc xuống Nam, thường được xem là vì, tại
phía Bắc, đất hẹp và dân đông, phía Nam, đất rộng và thưa
dân. Lý do này, một mình không đủ để giải thích tất cả các
sự kiện đã nhận thức trên kia, bởi vì có nhiều nơi đất hẹp,
như Thừa Thiên, lại có những làng rộng hơn ở Thái Bình, hay
ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, nơi mà đất lại rộng hơn. Và, nếu ở
vùng đất hẹp không thể tổ chức làng rộng được thì trái lại ở
vùng đất rộng vẫn có thể chức làng trù mật được. Chắc chắn
là đồng thời với lý do trên, một quan niệm sai lầm về sự tổ
chức làng, của những người phụ trách công cuộc chiếm cứ các
vùng đất mới, là một lý do rất nặng.
Càng xa
trung ương, hình thức nguyên khởi của làng và những hậu quả
đắc lợi của hình thức đó, lại càng bị quên.
Chỉ còn
nhớ rằng làng thì cố định, có chùa, có công sở, là đủ, mà
quên rằng các cơ sở cộng cộng đó, chỉ phục vụ hiệu quả khi
nào hình thức trù mật được tôn trọng.
Hậu quả của hình thức vật chất
Hậu quả của hình thức vật chất
Nhưng dù
lý do nào, thì, sự kiện thực tế đã như vậy, và mang theo
nhiều hậu quả rất là bất lợi cho chúng ta ngày nay.
Những
hậu quả bất lợi về quốc phòng, như chúng ta đã biết, là
những hậu quả tai hại cấp kỳ nhất.
Kế đó là
những hậu quả về nhân sinh, về xã hội và về văn hóa và kinh
tế, tai hại không kém, nhưng lâu ngày mới đến.
Trước
hết là, sống trong khuôn khổ một hình thức trù mật, tinh
thần tập thể mới nảy nở được. Hình thức trù mật mất đi, tinh
thần tập thể cũng mất. Đó là một điều vô cùng tai hại, bởi
vì lúc nào quốc gia, một tập thể to lớn, vẫn còn và vẫn đòi
hỏi ở người dân một ý thức tập thể mà họ đã mất.
Kế đó,
sống trù mật, người dân sẽ không cô lập, sẽ dựa vào tập thể
mà phát triển cá nhân. Nhờ ở sự tương trợ giáo dục tự nhiên,
kinh nghiệm của người trước truyền cho người sau, ít thất
lạc trong một tập thể và hợp thành truyền thống của tập thể.
Sống trù mật sự tiến hóa của cá nhân không bị gián đoạn.
Sau hết,
là sự liên lạc từ nhân dân lên chính quyền trung ương, cũng
như từ chính quyền trung ương xuống nhân dân, sẽ thông suốt,
dễ dàng, nếu nhân dân sống trong một hình thức trù mật. Các
cơ sở công ích mang đến cho nhân dân những phương tiện kinh
tế, xã hội hay văn hóa, để nâng cao đời sống, chỉ có thể tổ
chức được trong hình thức sống trù mật. Và lẽ dĩ nhiên là
nếu hình thức sống trù mật không có, thì tất cả những hậu
quả trên kia đều không có. Nghĩa là không hình thức trù mật,
người dân sẽ sống lẻ loi, truyền thống của tập thể mất lần,
cá nhân không phát triển, ý thức tập thể không còn. Chính
quyền đến với người dân một cách gián đoạn và người dân cũng
không biết đến chính quyền.
Ngoài
những dây liên lạc gia đình ra, người dân sống cô lập không
còn biết xã hội và quốc gia là gì.
Những sự
kiện tai hại trên đây, càng trở nên trầm trọng dưới thời
Pháp thuộc, bởi vì đời sống của nhân dân không phải là mối
lo âu của người thống trị.
Tình
trạng xã hội của người dân đã như vậy, tất nhiên nh hưng
nặng nề đến mức sản xuất kinh tế bởi vì các kỹ thuật sản
xuất, nhất là về nông nghiệp, lĩnh vực thiên sản chính của
chúng ta, đã thô sơ, lại càng ngày càng suy đồi.
Vì vậy
mà chúng ta không lấy làm lạ, khi đọc những tờ trình nghiên
cứu của các chuyên viên về khả năng tăng gia sản xuất của
chúng ta trong ngành nông nghiệp. Những người này ước lượng
rằng, mức sản xuất ở miền Bắc có thể tăng lên ít nhất là năm
mươi phần trăm, ở miền Trung ít nhất là một trăm phần trăm,
và ở miền Nam
hai trăm phần trăm.
Con số
sai biệt, giữa ba con số đánh giá khả năng tăng gia sản xuất
của ba miền, chỉ do sự sai biệt giữa trình độ thủ thuật sản
xuất hiện tại ở ba miền.
Những
trang trên đây giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ rằng sự chiếm
cứ của chúng ta, đối với phía Nam miền Trung chưa hoàn bị, và đối với miền Nam
hoàn toàn chưa rồi.
Để bắt
tay vào công cuộc phát triển, việc đầu tiên mà chúng ta phải
thực hiện là hoàn tất công cuộc chiếm cứ nói trên, bằng cách
tổ chức lại, trên căn bản sống trù mật và tập thể, các cơ sở
hạ tầng của chúng ta ở nông thôn.
Như thế
thì, việc tổ chức lại các làng mạc ở phía Nam miền Trung và
ở miền Nam, không phải chỉ có tác dụng quân sự, đối với sự
phá quấy của du kích quân miền Bắc, mà chính là để đặt nền
tảng cho công cuộc phát triển dân tộc trên mọi lĩnh vực,
nhân sinh, kinh tế và văn hóa.
Đúng hơn
nữa, hai tác dụng trên phải đi đôi với nhau. Nghĩa là, tác
dụng quân sự, đối với sự phá quấy của du kích miền Bắc, sẽ
đạt được dễ dàng hơn, nếu chúng ta đặt nó vào khuôn khổ bao
quát của một công cuộc phát triển dân tộc rộng lớn. Lý do
của sự kiện này là như sau đây:
Cộng
Sản, nói chung toàn bộ lý thuyết và phương pháp hành động,
là một phương tiện tranh đấu đã khắc phục được sự tin tưởng
của các nhà lãnh đạo miền Bắc. Sự tin tưởng của họ bắt nguồn
từ hai sự kiện. Trước hết là phương tiện đó đã tỏ ra có hiệu
lực trong giai đoạn giải phóng quốc gia khỏi ách thực dân,
bởi vì đã mang đến cho chúng ta những đồng minh quốc tế
trong cuộc tranh đấu lẻ loi của mỗi quốc gia, như chúng ta
đã biết. Sự kiện thứ nhì là gương phát triển của Nga Sô. Đối
với hoàn cảnh của Việt
Nam
sự tin tưởng có thích nghi không, chúng ta đã đề cập đến
trên đây và sau này sẽ trở lại.
Dầu thế
nào, do sự tin tưởng trên, các nhà lãnh đạo miền Bắc đã áp
dụng phương pháp Cộng Sản để thực hiện công cuộc phát triển,
như chúng ta đã trình bày ở phần hai, trong đó có cuộc xâm
chiếm miền Nam. Vì vậy mà, biện pháp quân sự đối với họ chỉ
là một phần trong một toàn bộ chương trình. Do đó những hành
động của họ có những khả năng lôi cuốn được quần chúng, mà
riêng những biện pháp quân sự của họ, không làm sao có được.
Nói một cách khác, biện pháp quân sự của họ không thể tách
rời và đứng riêng một mình, ngoài phạm vi công cuộc mà họ
chủ trương.
Như vậy,
để chống lại những sự phá rối của du kích quân miền Bắc thì
biện pháp quân sự không thôi là không đủ. Ví dụ mà chúng ta
có đánh bại họ về quân sự đi nữa, chúng ta cũng chưa thắng
họ được, bởi vì lực lượng chính yếu của họ không phải là
quân lực, nhưng là một toàn bộ chương trình.
Và chúng
ta đã biết, chương trình đó không gì khác hơn là một công
cuộc phát triển theo lối Cộng Sản.
Cũng như
chúng ta đã thấy trên kia, khi Nga Sô mở màn cho giai đoạn
hiện tại của cuộc tranh đấu với Tây phương thì điều kiện
trước tiên để bảo đảm thắng lợi là đưa cuộc tranh đấu của họ
lên tầm quốc tế, bởi vì địch thủ là Tây phương, đã bủa giăng
lưới thống trị trên khắp địa cầu. Trường hợp của chúng ta
ngày nay trong công cuộc đánh dẹp du kích quân miền Bắc cũng
tương tự như vậy. Vì miền Bắc đặt vấn đề, du kích quân phá
rối tại miền Nam, trong khuôn khổ toàn quốc của một công
cuộc phát triển theo lối Cộng Sản. Như vậy muốn đánh dẹp du
kích quân, chúng ta phải đặt công cuộc đánh dẹp đó trong
khuôn khổ toàn quốc của một công cuộc phát triển dân tộc
theo lối Tự Do. Nghĩa là, những biện pháp của chúng ta dùng
phải là những biện pháp không giới hạn trong lĩnh vực quân
sự mà là những biện pháp thuộc tất cả các lĩnh vực gồm trong
khuôn khổ của công cuộc phát triển dân tộc. Và chương trình
của chúng ta phải được quan niệm, không phải chỉ cho miền Nam, mà
cho toàn quốc.
Những cái vốn của lịch sử
Những cái vốn của lịch sử
Ngoài
hai vấn đề, “Sự liên lạc với Trung Hoa” và “Công cuộc Nam
tiến của dân tộc” đương nhiên đè nặng trên cái vốn hiện tại
của dân tộc, chúng ta đã thấy trong một đoạn trên đây, tám
mươi năm thống trị của người Pháp đã để lại cho chúng ta một
di sản mà ngày nay chúng ta còn phải mang những hậu quả rất
là tai hại. Chỉ cần nhắc lại ba gánh nặng nhất mà thời kỳ
Pháp thuộc đã lưu lại cho chúng ta.
Tây phương hóa bắt buộc
Tây phương hóa bắt buộc
Trước
hết là một công cuộc Tây phương hóa bắt buộc đối với chúng
ta. Bắt buộc, bởi vì chúng ta đã không có ý Tây phương hóa,
nhưng vì sinh lực mạnh bạo của một nền văn minh đã chiến
thắng văn minh chúng ta, làm cho chúng ta mất tin tưởng vào
các giá trị tiêu chuẩn cũ, và miễn cưỡng thâu thập nền văn
minh mới. Kẻ thống trị không có quyền lợi gì để biết đến sự
Tây phương hóa của lớp người bị trị.
Vận mạng
của chúng ta lại không phải do chúng ta nắm. Vì vậy mà công
cuộc Tây phương hóa, mà chúng ta đã phải chịu nhận từ một
thế kỷ nay, là một công cuộc Tây phương hóa bắt buộc, không
mục đích, không được hướng dẫn. Dân chúng bị lôi cuốn vào
một phong trào Tây phương hóa, mà không hiểu Tây phương hóa
để làm gì, Tây phương hóa đến mức nào là đủ, và Tây phương
hóa làm sao là đúng.
Xã hội tan rã
Xã hội tan rã
Tình
trạng đó đã dẫn dắt đến sự tan rã của xã hội chúng ta. Các
giá trị tiêu chuẩn cũ đã mất hết hiệu lực đối với tập thể mà
giá trị tiêu chuẩn mới thì không có. Do đó, tín hiệu tập hợp
các phần tử trong xã hội đã mất. Đó là một điều vô cùng bất
hạnh cho dân tộc trong giai đoạn này, vì chính lúc này là
lúc mà chúng ta cần phải thực hiện công cuộc phát triển dân
tộc bằng cách Tây phương hóa. Một công cuộc như vậy đòi hỏi,
như chúng ta đã biết, nhiều nỗ lực liên tục của toàn dân và
nhiều hy sinh lớn lao của mọi người. Vì vậy cho nên, sự có
một tín hiệu tập hợp vô cùng cần thiết, để toàn dân trông
vào và tin tưởng, mới có đủ nghị lực mà cung cấp cố gắng
trong một hoàn cảnh khổ hạnh. Và chính vào một thời kỳ như
vậy chúng ta lại mất các tín hiệu tập hợp.
Giả sử
chúng ta có một sự tin tưởng vào một nhân vật tượng trưng,
như người Nhật tin vào Thiên Hoàng của họ, thì sự tin tưởng
đó thật là quí báu vô cùng. Cho nên, sự lỡ cơ hội phát triển
lần đầu tiên, khi mà xã hội chúng ta chưa tan rã, là một
điều hết sức tai hại. Ngày nay, chúng ta phải phát động công
cuộc phát triển, từ một khởi điểm rất thấp, so với khởi điểm
chúng ta đã có thể có được, nếu chúng ta nắm ngay cơ hội lần
đầu tiên.
Sự thiếu
tín hiệu tập hợp tự nhiên cho dân tộc, đã và sẽ dẫn dắt các
nhà lãnh đạo chúng ta đến một hoàn cảnh phải xử dụng những
tín hiệu tập hợp chiến lược và cố nhiên là giai đoạn. Nhưng
đó là một sự thay thế bất đắc dĩ, bởi vì những tín hiệu tập
hợp giai đoạn, tự nó đã không bền, tất nhiên phải nhiều lần
thay đổi với thời gian, và sẽ làm mất sự tin tưởng của nhân
dân đối với người lãnh đạo.
Sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo quốc gia
Sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo quốc gia
Gánh
nặng thứ ba, mà thời kỳ thống trị của đế quốc đã để lại cho
chúng ta, là sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo quốc gia.
Chúng ta đã thấy rằng chúng ta lâm vào một sự gián đoạn đến
một trình độ trầm trọng nhất. Sự chuyển quyền không thể thực
hiện được giữa lớp người trước và lớp người sau. Bí mật quốc
gia và bí mật lãnh đạo đều bị mất. Thuật lãnh đạo không
truyền lại được. Người lãnh đạo không có đủ di sản dĩ vãng
không bảo tồn được, văn khố thất lạc và bị cướp bóc.
Một
trong các nguyên nhân chính yếu của sức mạnh của các cường
quốc là một sự liên tục lãnh đạo quốc gia trong nhiều thế
hệ. Trong thời gian đó, kinh nghiệm lãnh đạo chồng chất và
lưu truyền cho các thế hệ. Chỉ tưởng đến cái hậu thuẫn kinh
nghiệm súc tích hằng mấy thế kỷ của họ, chúng ta cũng khiếp,
khi nhìn lại mấy tờ giấy kinh nghiệm làm hậu thuẫn cho chúng
ta ngày nay. Quan niệm quét sạch tàn tích trước, để xây dựng
tương lai là một quan niệm ấu trĩ của quần chúng, không được
huấn luyện về ý thức chính trị.
Không
người lãnh đạo nào, kể cả những người cách mạng cuồng nhiệt
nhất, có quyền nuôi một ý tưởng như vậy. Bởi vì không có một
hành động nào mà sát hại một dân tộc bằng hành động quét
sạch tàn tích trước để xây dựng tương lai, vì như thế có
nghĩa là không bao giờ chúng ta xây dựng được một kho tàng
kinh nghiệm để làm hậu thuẫn cho sự lãnh đạo quốc gia.
Thêm vào
các gánh nặng trên đây, mà đế quốc đã lưu lại cho chúng ta,
sự thiếu người lãnh đạo trong các ngành, như chúng ta đã
biết, là một trở lực to tát cho công cuộc phát triển đang
đợi chờ chúng ta.
Vấn đề phân chia lãnh thổ
Vấn đề phân chia lãnh thổ
Chúng ta
đã thấy, trong một đoạn trên, những điều bất lợi cho chúng
ta, trong một công cuộc phát triển dân tộc, bởi vì nước Việt
Nam
là một nước nhỏ. Nay thay vì một công cuộc phát triển thực
hiện cho toàn quốc, tình trạng chia đôi đặt chúng ta vào
hoàn cảnh phải quan niệm công cuộc phát triển cho từng phân
nửa quốc gia. Như thế, việc chia đôi lãnh thổ tự nó đã là
một trở lực vật chất, cho công cuộc phát triển của chúng ta.
Mâu thuẫn và cơ hội
Mâu thuẫn và cơ hội
Một nước
nhỏ và yếu, như nước chúng ta, chỉ sống nhờ những mâu thuẫn
giữa các nước lớn. Chính sự mâu thuẫn, giữa khối Cộng Sản và
khối Tây phương, đã giúp cho các quốc gia bị đế quốc thống
trị thâu hồi được độc lập và cũng nhờ các mâu thuẫn giữa các
cường quốc Tây phương hồi thế kỷ 19 mà nước Nhật đã thực
hiện được công cuộc phát triển dân tộc.
Ngày
nay, mâu thuẫn giữa khối Cộng Sản và khi Tự Do, cũng như
mâu thuẫn giữa khối Nga Sô, khối Tây phương và khối Trung
Cộng đang thành hình, hay là những mâu thuẫn giữa các quốc
gia của khối Cộng Sản hay giữa các quốc gia của khối Tự Do,
tất cả đều là những phương tiện giúp cho Việt Nam và các
quốc gia, đồng thuyền vi Việt Nam, thực hiện công cuộc phát
triển của mình.
Mâu
thuẫn càng nhiều, cơ hội càng thuận lợi; mâu thuẫn giảm đi,
cơ hội trở nên khó khăn và mâu thuẫn mất đi, cơ hội cũng
mất.
Trong
hai mươi năm, từ ngày đại thế chiến thứ hai chấm dứt, như
chúng ta đã phân tích trong một đoạn trên, cơ hội đã đến cho
các quốc gia như chúng ta để phát triển. Nhưng riêng đối với
Việt Nam,
vì sự phân chia lãnh thổ, cho nên, chẳng những chúng ta
không khai thác được các mâu thuẫn để phát triển, mà chúng
ta lại còn rơi vào cái thế tranh chấp giữa hai yếu tố của
mâu thuẫn Tây phương và Nga Sô. Mặc dù cơ hội phát triển vẫn
còn, nhưng vị trí của chúng ta không cho phép chúng ta nắm
lấy cơ hội.
Nếu lần
này cơ hội lại mất như cách đây một trăm năm, thế hệ của
chúng ta và nhất là các nhà lãnh đạo đã vì một tính toán sai
lầm, trong một giai đoạn quyết định, tạo ra tình trạng phân
chia lãnh thổ, sẽ chịu sự nguyền rủa oán hận của các thế hệ
sau này, cũng như chúng ta đã phê bình nghiêm khắc lớp người
lãnh đạo thời Nguyễn triều.
Chúng ta
đã ghi vào xương máu các hậu quả đau khổ của sự lỡ cơ hội
lần thứ nhất, và chúng ta cũng có thể đoán biết những hậu
quả tai hại gấp mấy lần hơn, của sự lỡ cơ hội này trong khi
mà các dân tộc đồng thuyền với chúng ta đều nỗ lực nắm lấy
cơ hội phát triển và nhiều dân tộc đã thật sự nắm lấy được.
Hiện trạng tâm lý
Hiện trạng tâm lý
Sự phân
chia lãnh thổ còn tạo ra một hiện trạng tâm lý, thuộc về
tình cảm, ăn sâu và lan rộng trong quần chúng. Mỗi người
Việt Nam
ở phía
Nam
cũng như phía Bắc đều cảm thấy như đã bị cưỡng đoạt một phần
di sản của tổ tiên. Vì tính cách sâu và rộng trong quần
chúng của hiện tượng tâm lý trên, mà mọi cuộc vận động chính
trị, ở phía Nam cũng như phía Bắc, đều tìm cách khai thác
vấn đề thống nhất lãnh thổ, cho chủ trương giai đoạn của
mình.
Phân chia và phân tranh
Phân chia và phân tranh
Đứng
trước sự phân chia lãnh thổ, phần đông liên tưởng đến cuộc
Nguyễn, Trịnh phân tranh hồi thế kỷ thứ 17, đến cuộc phân
tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh hồi thế kỷ thứ 18 và đến
cảnh điêu tàn của đất nước sau gần hai trăm năm nội loạn.
Tuy nhiên, các cuộc phân tranh trước đây trong lịch sử và
cuộc phân chia hiện tại khác nhau về bản chất của các nguyên
nhân, về giai đoạn tiến hóa của xã hội Việt Nam và về tính
chất của các hậu quả lưu lại cho các thế hệ sau.
Trước
hết, nguyên nhân các cuộc phân tranh trước đây đều do những
sự tranh giành ảnh hưởng nội bộ giữa những nhà lãnh đạo của
chúng ta. Cuộc phân chia ngày nay là hiện tượng địa phương
của sự tranh chấp giữa ba khối Tây phương, Nga Sô và Trung
Cộng. Sở dĩ chúng ta phải gánh chịu hậu quả của một cuộc
tranh chấp ngoại lai như vậy, là vì điều kiện gian lao của
cuộc tranh giành độc lập đã dẫn dắt một số nhà lãnh đạo của
chúng ta vào phe Đồng Minh với Nga Sô, và sau đó họ đã không
đủ khéo léo để kịp thời rút ra khỏi cuộc Đồng Minh nói trên,
khi cuộc Đồng Minh đó đã chấm dứt hiệu lực.
Các cuộc
phân tranh trước đây đã xảy ra trong một thời kỳ tiến hóa
liên tục của xã hội Việt Nam.
Nghĩa là, trước và sau các cuộc phân tranh trước đây, xã hội
Việt Nam
đều sống theo một loại giá trị tiêu chuẩn. Vì vậy, cuộc phân
tranh sau khi chấm dứt, không lưu lại một sự gián đoạn nào
trong đà tiến hóa của xã hội chúng ta.
Cuộc
phân chia ngày nay xảy ra trong một giai đoạn mà chúng ta
đang cần đặt lại các giá trị tiêu chuẩn, cho sự tiến hóa của
xã hội chúng ta. Trước sự phân chia, các giá trị tiêu chuẩn
của xã hội cũ đã chết, mà các giá trị tiêu chuẩn mới thì
chưa có. Do đó, xã hội của chúng ta tan rã và con thuyền của
chúng ta trôi giạt, không có định hướng. Vì vậy mà, như
chúng ta đã biết, công cuộc phát triển dân tộc, trong cơ hội
thứ hai này, sẽ diễn ra trong một hoàn cảnh vô cùng nghiêm
khắc so với hoàn cảnh, trong đó công cuộc phát triển dân tộc
có thể thực hiện được, nếu chúng ta đã nắm lấy được cơ hội
thứ nhất.
Nếu
trước đây, chúng ta dưới thời nhà Nguyễn, đã nắm được cơ hội
thứ nhất để phát triển dân tộc, như người Nhật, thì ngoài ra
sự thâu thập kỹ thuật Tây phương, chúng ta chỉ cần phải tìm
một trạng thái thăng bằng mới để thâu nạp một số giá trị
tiêu chuẩn mới dính liền với các kỹ thuật Tây phương, bởi vì
các giá trị tiêu chuẩn cũ của chúng ta vẫn còn đủ sinh lực.
Nhưng
trong hoàn cảnh của xã hội chúng ta ngày nay, một công cuộc
phát triển dân tộc đương nhiên gồm một phần rất quan hệ, là
đặt lại các giá trị tiêu chuẩn mới cho sự tiến hóa của dân
tộc và chính trên lĩnh vực này, sự phân chia ngày nay mới
lưu lại những hậu quả tai hại nhất cho các thế hệ tương lai.
Dân tộc
chúng ta ở vào một thời kỳ mà công cuộc phát triển dân tộc
bằng cách Tây phương hóa là một vấn đề sống còn mà chúng ta
phải thực hiện cho kỳ được. Chúng ta đã dành rất nhiều trang
cho vấn đề này cũng là vì tính cách vô cùng thiết yếu của
nó.
Với sự
phân chia ngày nay, chắc chắn là phía
Nam
sẽ phát triển theo lối Mỹ và phía Bắc sẽ phát triển theo lối
Nga.
Giả sử
mà hai miền, mặc dầu chưa thực hiện rồi công cuộc phát
triển, nhưng đều bước một bước dài trong công cuộc đó, thì
đương nhiên, nhân dân ở hai miền sẽ hưởng ứng với những tín
hiệu tập hợp khác nhau, sẽ tin tưởng vào những giá trị tiêu
chuẩn khác nhau và sẽ có những tập quán xã hội hoàn toàn
khác nhau.
Các sự
kiện này không sao tránh được, bởi vì, miền Bắc, áp dụng
phương pháp Cộng Sản trong công cuộc phát triển, sẽ tôn
sùng, với mục đích huy động quần chúng, nhiều giá trị tiêu
chuẩn chiến lược, giai đoạn, và đối chọi lại với các giá trị
tiêu chuẩn, di sản của văn minh nhân loại. Chỉ khi nào mục
đích phát triển đã đạt như ở Nga Sô ngày nay, thì những giá
trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn đó mới sẽ được thay
đổi và nhường chỗ lại cho những giá trị tiêu chuẩn thích
nghi với di sản văn minh nhân loại. Ví dụ cách đây hơn bốn
mươi năm, lúc cách mạng Nga Sô đang cao trào, các nhà lãnh
đạo Nga Sô vì lý do huy động nhân dân, hết sức khuyến khích
ái tình tự do, phá hủy gia đình, cực lực tiêu diệt quyền tư
hữu, đả phá tôn giáo. Nhưng bốn mươi năm sau, các nhà lãnh
đạo Nga Sô, sau khi mục đích phát triển đã đạt, lần lần
không làm sao không trở về với các giá trị tiêu chuẩn đã
được chứng minh là những di sản của văn minh nhân loại: tôn
trọng gia đình, nhìn nhận quyền tư hữu, kính trọng tôn giáo.
Trong
khi đó, miền Nam,
phát triển theo lối Mỹ, chắc chắn sẽ tôn trọng những giá trị
tiêu chuẩn chống lại các giá trị tiêu chuẩn chiến lược và
giai đoạn của miền Bắc.
Trong
hoàn cảnh như trên vừa trình bày, trong thời gian đương phát
triển cho hai miền, một sự thống nhất không thể nào thực
hiện được mà không mang đến những trạng huống đau khổ cho
toàn dân, bởi vì một sự thống nhất như vậy sẽ tạo ra một số
người thất cước là phân nửa dân tộc trong một thế hệ.
Như vậy
thì, vấn đề đã trở nên rõ, hoặc chúng ta phải thống nhất
trước khi phát động công cuộc phát triển bằng cách Tây
phương hóa, hoặc chúng ta chỉ có thể thống nhất sau khi mục
đích phát triển đã đạt.
Như vậy
thì, để bên ngoài mọi lý do tình cảm và mọi hậu ý khai thác
vấn đề thống nhất với mục đích chiến thuật chính trị, và chỉ
nhắm vào vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng dân tộc,
chúng ta phải có thái độ như thế nào trước sự phân chia lãnh
thổ?
Để có đủ
yếu tổ trả lời câu hỏi trên đây, trước hết chúng ta tìm xem
nguyên nhân nào đã dẫn dắt đến tình trạng phân chia ngày
nay. Tuy nhiên, trước khi có điều kiện trả lời đích xác
chúng ta cũng có thể nhận xét rằng, miễn là công cuộc phát
triển được bảo đảm, cái lợi cho dân tộc là thâu nhận những
giá trị tiêu chuẩn có tính cách vĩnh viễn thay vì những giá
trị tiêu chuẩn giai đoạn và chiến lược.
Nguyên nhân của sự phân chia lãnh thổ
Nguyên nhân của sự phân chia lãnh thổ
Từ ngày
Việt Nam bị
chia đôi, thời gian qua mới có mười năm. Thời giờ còn chưa
đủ dài để cho các tài liệu lịch sử, vô tư xứng danh, có thể
nổi lên trên khối tài liệu bị thiên kiến của người đương
cuộc chi phối. Tuy nhiên, một số sự kiện lịch sử khắc tín
cũng đã bắt đầu thành hình. Và chính chúng ta trong các
trang trên cũng đã nhìn thấy và dẫn chứng một ít nhiều.
Xét các
biến cố, đã xảy ra, cho Việt Nam và cho các quốc gia đồng
thuyền với chúng ta trước đây, từ năm 1945, chúng ta nhận
thấy trước tiên, ảnh hưởng của hai lối đế quốc – lối đế quốc
kiểu Anh và lối đế quốc kiểu Pháp – đến công cuộc tranh đấu
giành độc lập của các nước bị thống trị và đến các biến
chuyển chính trị trong các nước ấy, từ khi độc lập đã thâu
hồi.
Chính sách thuộc địa của Pháp
Chính sách thuộc địa của Pháp
Chính
sách thuộc địa của Pháp, chúng ta đã biết, không có phân
minh giữa hai hình thức thuộc địa, thuộc địa di dân và thuộc
địa khai thác.
Đối với
các thuộc địa khai thác, chính sách của người Anh rất rõ
rệt. Họ nhìn xa và biết thế nào rồi cũng có ngày họ phải ra
đi và trả độc lập lại cho người bổn xứ. Vì thế cho nên,
chính phủ Anh đã dự trù sẵn cho những nơi đó một chương
trình gồm, vừa vấn đề đào tạo những người lãnh đạo sẽ thay
thế họ, vừa vấn đề chuyển quyền một cách ôn hòa từ tay họ
sang cho những người vừa thoát khỏi ách thống trị.
Trong
khi đó, ngay đối với các thuộc địa mà bản chất phải là một
thuộc địa khai thác, người Pháp, vì một quan điểm thiển cận,
không hề dự liệu một chương trình rút lui nào cả. Đến khi
các biến chuyển chính trị đặt họ trước một tình thế phải
thoái triệt và thừa nhận độc lập của các dân tộc bản xứ,
thái độ ca các chính phủ Pháp, vì sự thiếu chính sách, lúc
nào cũng là một sự dằng co giữa việc đi và việc ở.
Nước
Pháp đã phải trả bằng một giá rất đắt sự thiếu một chính
sách dài hạn sáng suốt và một chương trình hành đng cương
quyết lúc tình thế đòi hỏi.
Các sự
kiện trên cũng là nguyên nhân đã làm cho các cựu thuộc địa,
như Việt Nam và Algérie, phải hy sinh nhiều xương máu và
chịu đựng nhiều gian lao trong cuộc chiến đấu giành độc lập.
Chúng ta không phủ nhận rằng một sự độc lập mua bằng nhiều
hy sinh và nhiều gian lao, là một sự độc lập quí giá, khả dĩ
nêu cao tính kiêu hùng của dân tộc.
Nhưng
sinh lực của cộng đồng là một của báu, lúc nào cũng thiết
yếu cho sự phát triển và sự tiến hóa, nhà lãnh đạo nào cũng
phải tự đặt cho mình một nghiêm luật phải bảo vệ và tiết
kiệm, khi quyền lợi của cộng đồng bắt buộc phải sử dụng đến.
Giả sử
mà chúng ta đã giành được độc lập một cách ít hao tốn sinh
lực của dân tộc, như trong trường hợp của các cựu thuộc địa
Anh, thì bao nhiêu gian lao và hy sinh mà chúng ta đã phải
đổ vào cuộc kháng chiến, chúng ta đã có thể dành cho công
cuộc phát triển, mà vì sự sống còn của cộng đồng dân tộc,
chúng ta phải thực hiện cho được bằng mọi cách.
Độc lập không phải là mục đích. Phát triển dân tộc mới là mục đích.
Các sử
gia Tây phương sau này, sẽ vô cùng nghiêm khắc đối với nước
Pháp, vì sự thiếu chính sách của Pháp trong một giai đoạn
quyết định đã làm giảm ưu thế của Tây phương trong cuộc
tranh đấu vĩ đại giữa Tây phương và Nga Sô. Các sử gia Việt Nam sau này cũng sẽ vô cùng nghiêm khắc với Pháp,
vì sự thiếu chính sách của Pháp đã gây ra một cuộc chiến
tranh tàn phá sinh lực của dân tộc Việt
Nam.
Các sử
gia của Việt Nam sau này cũng sẽ vô cùng nghiêm khắc đối với
số người lãnh đạo đã không đủ sáng suốt nhận thức bản chất
thực tế của cuộc tranh chấp vĩ đại giữa Tây phương và Nga Sô
để khai thác mâu thuẫn, thâu phục được phương tiện độc lập
cho chúng ta mà khỏi phải trả bằng một sự phí phạm sinh lực
to tát, có thể tránh được.
Chính
hai loại sự kiện trên, chính sách thuộc địa thiển cận của
Pháp và sự không thấu triệt vấn đề của một số nhà lãnh đạo
của chúng ta, chẳng những tạo cho chúng ta một cuộc tranh
giành độc lập vô cùng tiêu hao, lại còn dẫn dắt đến tình
trạng phân chia ngày nay, một trở lực vô cùng tai hại cho
công cuộc phát triển dân tộc chúng ta.
Chính sách Pháp dẫn dắt đến phân chia
Chính sách Pháp dẫn dắt đến phân chia
Trong
khuôn khổ sự tranh chấp vĩ đại giữa Nga Sô và Tây phương,
liền sau khi Đại thế chiến thứ hai chấm dứt, người Anh nhận
thức rằng trong cuộc diện của sự tranh đấu lúc bấy giờ, kẻ
thù chính của Tây phương là Nga Sô và các Đồng Minh của họ.
Vì vậy cho nên, thi hành một chương trình đã dự trù từ lâu,
người Anh cấp thời thực hiện sự giao hoàn độc lập lại cho
các thuộc địa khai thác. Và trong các cuộc thương thuyết với
các nhà lãnh đạo bổn xứ, cũng như trong các chương trình đào
tạo người thay chân lâu nay, người Anh cương quyết loại bỏ
ngoài vòng các lãnh tụ Cộng Sản. Thêm vào đó, các chương
trình viện trợ phát triển được thực hiện để hậu thuẫn cho
chính sách biến các cựu thuộc địa thành những đồng minh của
Tây phương trong cuộc tranh chấp với Nga Sô. Toàn bộ các sự
kiện trên, như chúng ta đã biết, là cơ hội để cho các quốc
gia trước đây bị đế quốc thống trị phát triển dân tộc.
Mặc dầu
là một phần tử quan trọng của xã hội Tây phương, nước Pháp
vì sự thiếu chính sách như trên đã nói, và vì sự thăng trầm
của chiến sự trong Đại thế chiến thứ hai, không có cái nhìn
bao quát cần thiết và thích hợp với cuộc diện của sự tranh
chấp vĩ đại giữa Nga và Tây phương.
Trong
các thuộc địa, người Pháp vẫn tiếp tục một chính sách đã áp
dụng lâu nay, vừa không hợp thời vừa nhỏ nhen, mục đích bảo
vệ những quyền lợi đã lỗi thời. Đi, ở lưỡng nan, người Pháp
dùng thủ đoạn thông thường quân bình giữa các lực lượng cách
mạng Quốc Gia và Cộng Sản, vừa nuôi dưỡng, vừa tiêu hao cả
hai bên để thủ lợi. Điều bất ngờ cho người Pháp là khi thời
cơ đến ở Việt Nam, sức quật cường của dân tộc mạnh
cho đến đỗi tất cả đều đặt công cuộc kháng chiến chống Pháp
lên trên mọi kỳ thị đảng phái. Nhờ các sự kiện đó, và nhờ sự
tổ chức tinh vi và sự hiểu vấn đề, cả hai, đều thừa hưởng
của Cộng Sản quốc tế, đảng Cộng Sản đã nắm được chính quyền
ở Việt Nam.
Chẳng
những thế, người Pháp có một lý do khác để thúc đẩy cho cuộc
kháng chiến của chúng ta rơi vào sự lãnh đạo của Cộng Sản.
Quốc gia kiệt quệ vì chiến bại và sự chiếm đóng của Đức
trong bốn năm, nước Pháp cần tiền để kiến thiết. Ngoài các
số viện trợ trong khuôn khổ chương trình Marshall mà chúng
ta đã biết, nước Pháp đã giành trực tiếp hoặc gián tiếp vào
sự tái thiết nội bộ, một số lớn viện trợ của Tây phương, nói
là để chận đứng sự bành trướng của Cộng Sản ở Việt Nam. Vì
vậy mà người Pháp cần duy trì chiến cuộc ở Đông Dương và đưa
sự kháng chiến quốc gia rơi vào sự lãnh đạo của Cộng Sản.
Nếu
chúng ta ý thức rằng, sau Đại thế chiến thứ hai, các biến
chuyển chính trị trên thế giới, và tất nhiên là ở Việt Nam,
đều bị động trong khuôn khổ cuộc tranh chấp vĩ đại giữa Nga
Sô và Tây phương, thì chúng ta thấy rằng, ngay từ lúc người
Pháp thi hành các thủ đoạn chính trị của họ ở Việt Nam, mầm
mống sự chia đôi đất nước của chúng ta đã không tránh được.
Các mưu
mô toan tính của Pháp không hoàn toàn kết quả, vì Pháp không
thể mãi mãi, vô tình hay cố ý, nhắm mắt trước cuộc diện sự
tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương, và một mình, đi ngược
lại chính sách của Tây phương, chủ trương biến các thuộc địa
cũ thành những Đồng Minh chống lại Nga Sô. Pháp đã phải rút
khỏi bán đảo Đông Dương để cho Tây phương thi hành chính
sách nói trên. Và chính Pháp, sau vụ Việt Nam và
Algérie, cũng phải áp dụng chính sách đối phó với các thuộc
địa còn lại để củng cố vị trí cho Tây phương.
Chẳng
riêng gì trong phạm vi vấn đề Việt Nam, mà trong tất cả các
phạm vi khác, trong khuôn khổ sự tranh chấp giữa Nga Sô và
Tây phương, hành động của Pháp lúc nào cũng mang nặng tinh
thần thiếu đoàn kết với Tây phương.
Nguyên
nhân ở chỗ thảm trạng về chiến sự của Pháp trong Đại thế
chiến thứ hai, đã tạo ra cho các nhà lãnh đạo Pháp một tâm
trạng tự ty mặc cảm và một sự di hận cay đắng đối với các
Đồng Minh của họ trong khối Tây phương.
Ở Việt Nam, tinh thần hậu thế chiến của nước Pháp đã lưu
lại cho chúng ta những hậu quả vô cùng tai hại: chính tinh
thần đó và một chính sách thuộc địa thiếu sáng suốt phải
chịu trách nhiệm, như chúng ta vừa trình bày, sự phân chia
lãnh thổ Việt Nam hiện nay.
Đồng Minh với Cộng Sản
Đồng Minh với Cộng Sản
Như
chúng ta đã biết, nước Pháp không quan niệm sẵn, ngay từ lúc
chưa có sự thúc đẩy của các biến cố, một chính sách thuộc
địa sáng suốt, nên khi tình thế đòi hỏi, không có một chương
trình hành động thích đáng. Nhưng giả sự, mặc dầu hoàn cảnh
đó, nước Pháp ngay sau khi chính phủ Hồ Chí Minh đã thành
lập, đã có điều kiện để thi hành một chính sách trả thuộc
địa như người Anh và thành thật áp dụng một chính sách như
vậy. Trong trường hợp đó, chính phủ Hồ Chí Minh mặc dầu tư
cách lãnh tụ Đông Dương Cộng Sản Đảng của người lãnh đạo, đã
có đủ khả năng và ý chí để đưa nước Việt Nam ra ngoài vòng
ảnh hưởng của hai khối, tránh cho dân tộc một cuộc chiến
tranh tàn phá, và một sự chia đôi lãnh thổ, vừa xúc động
trên phương diện tâm lý và vừa di hại trên phương diện chính
trị, và sau đó đứng trên vị trí toàn quốc, khai thác các mâu
thuẫn để phát triển dân tộc không?
Vấn đề chính cho dân tộc là vấn đề phát triển
Vấn đề chính cho dân tộc là vấn đề phát triển
Chính
trị của một nước nhỏ, như nước chúng ta hoàn toàn bị động
trong cái thế của cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương.
Như
chúng ta đã biết, cũng vì có sự tranh chấp này mà các nhà
lãnh đạo Á Đông đã đồng minh với Nga Sô để tranh giành độc
lập cho dân tộc.
Nhưng
chúng ta cũng còn nhớ rằng Nga Sô sở dĩ liên kết với các
thuộc địa của Tây phương là bởi vì Nga Sô cần có đồng minh
trong công cuộc chiến đấu trường kỳ và vĩ đại với Tây
phương, mà mục đích trước hết và trên hết, là phát triển dân
tộc Nga. Tính cách thiêng liêng giữa các đồng chí của lý
tưởng cách mạng xã hội thế giới chỉ là một tín hiệu tập hợp
qui tụ kẻ thù của Tây phương vào một mặt trận phục vụ một
chiến lược tranh đấu của dân tộc Nga.
Ngày nay, mục đích
phát triển của Nga đã đạt. Sự thay thế các giá trị tiêu
chuẩn chiến lược và giai đoạn của Nga Sô bằng những giá trị
tiêu chuẩn, di sản của văn minh nhân loại, như chúng ta đã
thấy trong một đoạn trên, là một bằng cớ hùng biện nhất, soi
sáng lập trường của Nga. Trung Cộng tố cáo Nga phản bội chủ
nghĩa Các-mác Lê-nin vì những sự kiện trên. Trung Cộng lại
muốn thay thế Nga, nhân danh chủ nghĩa Các-mác Lê-Nin hô hào
qui tụ các nước kém mở mang, để phục vụ công cuộc phát triển
cho dân tộc Trung Hoa. Ngày nào mục đích phát triển đã đạt,
thì cuộc đồng minh mới này do Trung Cộng đề xướng cũng không
còn hiệu lực đối với Trung Cộng, cũng như cuộc đồng minh
trước đây do Nga đề xướng, ngày nay, không còn hiệu lực đối
với Nga. Và mục đích cuối cùng của cuộc tranh đấu vẫn là mục
đích dân tộc.
Nhiều
nhà lãnh đạo Á Đông mà quốc gia cũng đã bị Đế quốc thống
trị, đã đủ sáng suốt để nhìn thấu thâm ý chiến lược của Nga
Sô.
Gandhi và Nehru, từ chối sự đồng minh với Cộng Sản vì lý
do trên.
Các nhà
lãnh đạo Cộng Sản của chúng ta đồng minh với Nga Sô vì điều
kiện gian lao của một cuộc tranh đấu giành độc lập gay go
với người Pháp.
Nhưng,
họ chỉ có thể thoát ra ngoài vòng ảnh hưởng của hai khối để
lãnh đạo công cuộc phát triển của dân tộc, như chúng ta nêu
lên trong câu hỏi đầu mục này, nếu các điều kiện sau đây
được họ nhận thức rõ rệt:
1. Bản
chất thực tế của cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương.
2. Thâm
ý chiến lược của Nga Sô
3. Cuộc
đồng minh với Nga Sô, đã hết hiệu lực đối với Nga Sô, khi
mục đích phát triển của Nga Sô đã đạt.
4. Lý
thuyết Các-mác Lê-nin là một phương tiện tranh đu và phát
triển của Nga trước đây, cũng như là một phương tiện tranh
đấu và phát triển của Trung Cộng ngày nay.
5. Sự
đồng minh với Cộng Sản phải được chấm dứt kịp thời khi nó
không còn hiệu lực đối với dân tộc.
6. Đối
với dân tộc Việt Nam, Trung Hoa của Mao Trạch Đông, cũng như
Trung Hoa của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một
đe dọa truyền kiếp.
Sự đồng minh với Cộng Sản thúc đẩy phân chia
Sự đồng minh với Cộng Sản thúc đẩy phân chia
Chúng ta
chưa có một tài liệu hay một triệu chứng nào chứng tỏ rằng
các nhà lãnh đạo miền Bắc hiện nay đã nhận thức các điều
kiện trên. Ngược lại, các thơ loại chính trị của miền Bắc
còn đang ca tụng như là những chân lý những giá trị tiêu
chuẩn chiến lược và giai đoạn mà Nga Sô đã bỏ. Như thế thì
có lẽ dân tộc chúng ta còn phải bất hạnh mục kích các nhà
lãnh đạo miền Bắc của chúng ta tôn thờ như một chân lý, một
lý thuyết mà Nga Sô và Trung Cộng chỉ dùng làm một phương
tiện tranh đấu và Nga Sô bắt đầu sa thải khi mục đích phát
triển đã đạt.
Như thế
thì, giả sử mà người Pháp có thật sự thi hành một chính sách
trả thuộc địa, như người Anh, đối với Việt Nam, thì các nhà
lãnh đạo miền Bắc cũng chưa chắc đã đưa chúng ta ra được
ngoài vòng chi phối trực tiếp của hai khối để khai thác mâu
thuẫn mà phát triển dân tộc.
Trong
hoàn cảnh mà cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương chi
phối nặng nề hành động chính trị của các quốc gia nhỏ, lập
trường Cộng Sản, lệ thuộc Trung Cộng, của các nhà lãnh đạo
miền Bắc, đương nhiên gây phản ứng của Tây phương và sự phân
chia lãnh thổ cũng không tránh được.
Như vậy,
tư cách Cộng Sản của các nhà lãnh đạo miền Bắc là một điều
kiện thuận lợi giúp cho người Pháp thi hành những toan tính
chính trị của họ ở Việt Nam. Và lập trường Cộng Sản lệ thuộc
Nga Sô và Trung Cộng là một nguyên nhân của sự phân chia
lãnh thổ Việt Nam, trong khung cảnh chính trị của thế giới,
sau Đại chiến thứ hai, do sự tranh chấp giữa Nga Sô và Tây
phương chi phối.
Tóm lại
nguyên nhân sâu xa của sự phân chia lãnh thổ Việt Nam ngày
nay là chính sách thuộc địa của Pháp và lập trường Cộng Sản
lệ thuộc Nga Sô và Trung Cộng của các nhà lãnh đạo miền Bắc.
Các biến cố chính trị dẫn dắt đến sự phân chia
Các biến cố chính trị dẫn dắt đến sự phân chia
Trong
thực tế, sự phân chia đã nảy mầm khi hai quốc gia Tây phương
Anh và Mỹ, để dọn đường cho một giải pháp chấm dút sự bế tắc
của Pháp ở Việt Nam, nhìn nhận và bắt dầu viện trợ cho quốc
gia Việt Nam. Tuy nhiên, viện trợ quân sự và kinh tế đều qua
tay chính phủ Pháp. Và một phần lớn, đã được sử dụng trực
tiếp hay gián tiếp trong công cuộc tái thiết nước Pháp đã bị
chiến tranh tàn phá. Thời gian qua, xét kỹ thì thời kỳ này
lại là thời kỳ mà những thủ đoạn chính trị của Pháp ở xứ này
mang đến nhiều kết quả nhất.
Bên khối
Cộng Sản, Nga và Trung Cộng cũng nhìn nhận Cộng Hòa Dân Chủ
Việt Nam và cũng bắt đầu viện trợ.
Từ đây,
chiến cuộc Việt
Nam, biến thành một chiến
trường quân sự và địa phương của cuộc tranh chấp giữa Nga Sô
và Tây phương. Những mâu thuẫn giữa Nga Sô và Tây phương mà,
đúng lý ra, phải được dùng để phát triển dân tộc, lại trở
thành những khí giới gieo rắc sự chết cho toàn dân. Những
yếu tố của một cơ hội phát triển đã biến thành những khí cụ
của một tai họa.
Đồng
thời, điều này vô cùng quan trọng cho chúng ta, sự chi phối
của Trung Hoa, và sau lưng sự chi phối, sự đe dọa xâm lăng
của Trung Hoa, mà chúng ta đã biết là vô cùng nặng nề, một
cách liên tục, cho chúng ta trong hơn tám trăm năm, tạm thời
đình chỉ trong gần một thế kỷ Pháp thuộc, đã bắt đầu hoạt
động trở lại dưới các hình thức viện trợ và cố vấn quân sự
cho quân đội của Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam.
Chúng ta
thừa hiểu rằng sự phát triển của Tàu, là mục đích trước và
trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh hiện nay của các nhà lãnh
đạo Trung Cộng, cũng như sự phát triển của Nga là mục đích
trước và trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh trước đây của các
nhà lãnh đạo Nga.
Sự phát
triển của một khối to lớn như Trung Cộng là một sự đe dọa
cho cả thế giới, dù mà các nhà lãnh đạo Trung Cộng không
nuôi dưỡng những tham vọng bành trướng như hiện nay. Bởi vì,
sự phát triển của một khối gần tám trăm triệu dân, tự nó đã
mang trong mình một sự đe dọa xâm chiếm ghê gớm đối với các
cộng đồng quốc gia khác. Và sự đe dọa bao giờ cũng gây phản
ứng. Vì thế cho nên sự phát triển của Trung Cộng, ngoài trở
lực đương nhiên và nội bộ của một công cuộc phát triển, còn
phải gặp nhiều trở lực do các phản ứng bên ngoài gây ra.
Trái
lại, sự phát triển của một nước nhỏ như nước Việt Nam, sẽ không gặp phản ứng, vì sẽ
không là một mối đe dọa cho ai cả. Do đó, ngoài những cố
gắng nội bộ mà một công cuộc phát triển đương nhiên sẽ đòi
hỏi, các trở lực bên ngoài sẽ hầu như không có. Nếu cuộc
phát triển của chúng ta, tự nó dễ thực hiện hơn cuộc phát
triển của Trung Cộng, thì sự gắn liền vận mạng của chúng ta
vào vận mạng của Trung Cộng, là một hành động di hại cho dân
tộc, dù mà, đối với chúng ta, Trung Cộng có thật sự nuôi
nhiều thiện chí.
Nhưng
chúng ta đã biết chính sách liên tục của các triều đại Trung
Hoa đối với Việt Nam, căn cứ trên những lý do lịch sử
và địa dư.
Trở lại
vấn đề phát triển của Trung Cộng. Các nhà lãnh đạo Trung
Cộng ý thức hoàn cảnh phát triển nghiêm khắc của quốc gia
họ, nên đã dốc nhiều nỗ lực để vận động thành lập một mặt
trận đồng minh rộng rãi trong khắp thế giới làm hậu thuẫn
cho chương trình phát triển riêng của dân tộc Trung Hoa.
Và trong
tinh thần này, Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt. Tuy
nhiên, vị trí địa dư của Bắc Việt còn là nguồn gốc của hai
động cơ khác thúc đẩy sự viện trợ nói trên. Đồng bằng Bắc
Việt và con sông Nhị Hà là con đường tháo ra biển của tất cả
vùng Tây Nam
nước Tàu. Với công cuộc phát triển đang thực hiện, nước Tàu
của Mao Trạch Đông còn cần dùng con đường ra biển đó, hơn cả
các triều đại trước đây của Trung Hoa. Viện trợ cho Bắc
Việt, trên quan điểm đó, là để dành quyền sử dụng con đường
ra biển lúc thời cơ đến.
Trong
khi ảnh hưởng của Tây phương còn ưu thế trên thế giới, viện
trợ cho Bắc Việt cũng là một công tác phòng thủ cho Trung
Hoa, vì con đường tháo ra biển cũng là con đường xâm nhập
vào Trung Hoa của các đạo quân chinh phục.
Dầu sao,
sự Trung Cộng viện trợ cho Bắc Việt, không làm cho chúng ta
quên rằng, trong thời kỳ mà xã hội Đông Á bị Tây phương bắt
đầu tấn công, nhân cơ hội vua Tự Đức nhà Nguyễn phái sứ sang
cầu viện, nhà Thanh, thay vì cứu viện, đã thỏa thuận với
Pháp để chia đôi Việt
Nam. Nước Tàu như chúng ta
đã biết, giữ về phần mình, tất cả các vùng thuộc đồng bằng
sông Nhị Hà, nghĩa là con đường tháo ra biển của vùng Tây
Nam Trung Hoa.
Phân chia thật sự
Phân chia thật sự
Sự phân
chia thật sự năm 1954, sở dĩ thực hiện được là bởi vì hai
bên, Tây phương và Cộng Sản đều tìm thấy ở giải pháp đó
nhiều điều lợi cho riêng khối của mình.
Đối với
Tây phương, Hội nghị Genève là một vận động triển kỳ để
chỉnh đốn lại những lỗi lầm chính trị của Tây phương tại
Việt Nam,
do sự thiếu chính sách của Pháp đã gây ra. Kế hoạch của Tây
phương là chặn đứng sự bành trướng của Cộng Sản xuống Đông
Nam Á, để có thời gian mang áp dụng vào Việt
Nam
chính sách của Anh đối với các cựu thuộc địa. Do đó, đồng
thời với Hiệp định Genève, Pháp bị đưa ra khỏi bán đảo Ấn Độ
Chi Na. (Đông Dương)
Đối với
khối Cộng Sản, các biến cố chính trị sau đây, đã làm bối
cảnh cho lập trường tại Hội nghị của Nga Sô và Trung Cộng.
Năm
1953, Staline vừa từ trần, một cuộc khủng hoảng tìm người kế
vị, xảy ra một cách ác liệt giữa các lãnh tụ Nga Sô. Các
cuộc thanh trừng đẫm máu vừa làm rung chuyển chính trường
của Nga Sô, vừa bộc lộ nhược điểm của bộ máy lãnh đạo theo
kiểu Cộng Sản. Tình hình bất ổn định trong nội bộ của Nga
Sô, kéo dài trong nhiều năm, đã làm cho Trung Cộng trở thành
một đồng minh quí giá, chẳng những đối với cuộc tranh chấp
giữa Nga Sô và Tây phương, mà lại còn đối với cuộc tranh
chấp giữa các phe trong nội bộ đảng Cộng Sản Nga. Vai trò
của Trung Cộng đương nhiên, trở nên quan trọng ở Á châu và ở
Hội nghị. Và lập trường của khối Cộng Sản tại Hội nghị có
thể xem gần như là lập trường của Trung Cộng.
Điều lợi
thứ nhất cho Trung Cộng ở Hội nghị Genève là một thắng lợi
ngoại giao bởi vì Hội nghị là cuộc dàn xếp quốc tế đầu tiên
có Trung Cộng tham dự. Sự có mặt của Mỹ tại Hội nghị, đối
với Trung Cộng, là một sự mặc nhiên thú nhận rằng, mặc dầu
Mỹ chưa nhìn nhận Trung Cộng, Mỹ không thể phủ nhận sự có
mặt của Trung Cộng trong các vấn đề Á châu và thế giới.
Điều lợi
thứ nhì cho Trung Cộng là một thắng lợi về ranh giới và lãnh
thổ. Lúc đầu, phái đoàn Bắc Việt yêu sách lấy vĩ tuyến 13
làm ranh giới giữa hai miền. Hậu ý của phái đoàn Bắc Việt là
thâu gồm các tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, mà Cộng Sản đã
kiểm soát từ trong nhiều năm. Nhưng về sau, dưới áp lực của
Trung Cộng ranh giới đã lui lại đến vĩ tuyến 17. Giả
sử có lui lại đến vĩ tuyến 19 như phái đoàn Pháp yêu cầu,
Trung Cộng cũng bằng lòng. Bởi vì, dù ranh giới có đặt ở vĩ
tuyến 17 hay 19, thì những tham vọng về đất đai của Trung
Cộng đối với Việt Nam cũng đã thỏa mãn.
Như
chúng ta đã biết, vùng đất thiết yếu cho nước Tàu là các
vùng hai bên sông Nhị Hà, con đường tháo ra biển, thiên
nhiên của vùng Tây Nam Trung Hoa. Với thỏa hiệp tại vĩ tuyến
17, thì dù mà ảnh hưởng của Tây phương có còn ở miền Nam, sự
lệ thuộc của chính phủ miền Bắc cũng đủ bảo đảm cho nhu cầu
đất đai của Trung Cộng trong tương lai.
Điều lợi
thứ ba cho Trung Cộng l một sự kin quốc phòng. Ảnh hưởng
của Tây phương tuy vẫn hùng mạnh ở Đông Nam Á, nhưng đã cách
Trung Cộng bằng một quốc gia trái độn.
Việc ấn
định ranh giới ở vĩ tuyến 17, vừa xác nhận tham vọng đất
đai, bất di bất dịch của Tàu đối với Việt
Nam, vừa chứng minh sự lệ
thuộc của chính phủ Bắc Việt đối với Trung Cộng.
Và đồng
thời, Hội nghị Genève lại là một sự kiện không thể bác bỏ,
chứng tỏ rằng chính trị của một nước nhỏ như nước chúng ta
hoàn toàn nằm trong một thế bị động bởi cuộc tranh chấp giữa
Tây phương và Nga Sô.
Thái độ
Thái độ
Chúng ta
vừa phân tích xong các nguyên nhân của sự phân chia lãnh thổ
ngày nay, và vừa duyệt lại các sự kiện dẫn dắt đến sự phân
chia thật sự. Như thế, các yếu tố đã có, để chúng ta có thể
loại bỏ bên ngoài tất cả mọi lý do tâm lý, và mọi ý định sử
dụng tình trạng phân chia lãnh thổ vào một cuộc vận động
chính trị, hầu khách quan ấn định một thái độ lợi nhất cho
dân tộc trước sự phân chia hiện tại.
Như
chúng ta đã biết, vấn đề thiết yếu mà dân tộc chúng ta cần
phải giải quyết trong giai đoạn này là công cuộc phát triển
dân tộc bằng cách Tây phương hóa.
Dĩ nhiên
để thực hiện công cuộc đó, trường hợp thích đáng nhất là
thống nhất lãnh thổ, và trên vị trí toàn quốc, khai thác mâu
thuẫn giữa các khối để mang vào Việt Nam tư bản và kỹ thuật
cần thiết cho nỗ lực phát triển. Nhưng vì những lý do đã
xét, trong các đoạn trên, chúng ta không ở vào trường hợp
trên.
Vậy thì,
chúng ta phải nỗ lực thống nhất hai phần trước, rồi thực
hiện công cuộc phát triển toàn quốc sau, hay thực hiện trước
cuộc phát triển riêng cho hai phần và thống nhất sau?
Thái độ thứ nhất
Thái độ thứ nhất
Giả sử,
chúng ta chọn thái độ trước.
Sự phân
chia lãnh thổ Việt Nam như chúng ta đã biết, là hậu quả của
một hiện tượng địa phương và quân sự của cuộc tranh chấp
giữa Tây phương và Cộng Sản. Đã như thế thì, chúng ta đã
không chủ động được sự phân chia, cũng như chúng ta sẽ không
chủ động được sự thống nhất, ngày nào chúng ta chưa loại trừ
được hiện tượng nói trên ra khỏi Việt Nam. Nhưng, nếu, trước
khi hiện tượng đó thành hình, một sự lãnh đạo sáng suốt có
thể chủ động được sự ngăn cấm hiện tượng phát sinh, bởi vì
các yếu tố tạo ra hiện tượng chưa trực tiếp chi phối chính
sự của chúng ta. Sau khi hiện tượng đã cụ thể hóa, chúng ta
không còn chủ động được sự loại trừ hiện tượng nữa, bởi vì
các yếu tố nuôi dưỡng hiện tượng đã trực tiếp chi phối chính
sự của chúng ta.
Nhưng
giả sử mà, mặc dầu hoàn cảnh nghiêm khắc nói trên, chúng ta
vì vận dụng hết nỗ lực trong một thời gian, cố nhiên là phải
lâu dài, có thể thực hiện được thống nhất, thì chẳng những
sẽ tiêu hao sinh lực của dân tộc, đáng lẽ phải được dùng vào
công cuộc phát triển, mà lại là cơ hội phát triển có thể
không còn nữa. Nghĩa là chúng ta sẽ thống nhất mà không phát
triển. Chúng ta đã biết sự lỡ cơ hội phát triển lần này sẽ
di hại cho các thế hệ tương lai đến mức độ nào.
Hơn nữa,
vì những lý do mà chúng ta đã biết, sự tồn tại của dân tộc
cũng sẽ bị đe dọa. Và trong hiện tình chính trị, một sự
thống nhất sẽ đương nhiên làm mất cơ hội phát triển.
Giả sử,
sự thống nhất do Bắc Việt thực hiện, thì với sự chị phối
nặng nề của Trung Cộng đối với Bắc Việt, sự phát triển dân
tộc Việt Nam chắc chắn sẽ không thực hiện
được vì hai lý do.
Công
cuộc phát triển của nước Tàu, mục đích trên hết và trước hết
của các nhà lãnh đạo Trung Cộng, như chúng ta đã biết, là
một công cuộc vô cùng khó khăn. Nếu Việt Nam
dính liền vận mạng của dân tộc với Trung Cộng, thì công cuộc
phát triển của chúng ta cũng trở thành vô cùng khó khăn. Hơn
nữa, nhu cầu của Việt Nam trong công cuộc phát triển sẽ
đương nhiên ở vào hàng thứ yếu đối với nhu cầu phát triển
của Trung Cộng. Và trên phương diện Tây phương hóa, chúng ta
sẽ là một thứ học trò hạng ba, sẽ dẫm chân vào những lỗi lầm
không tránh được của người học trò hạng nhì.
Đó là
trong trường hợp mà Trung Cộng chỉ có thiện chí đối với Việt Nam. Căn cứ trên một ngàn năm lịch
sử bang giao giữa hai quốc gia, chúng ta có thể quả quyết
rằng trường hợp này không bao giờ phát triển được, mà lại
chúng ta sẽ tròng vào cổ dân tộc cái ách nô lệ mà tổ tiên
chúng ta, trong một ngàn năm đã đổ nhiều xương máu để loại
trừ.
Giả sử
sự thống nhất do Nam Việt thực hiện, Việt
Nam
sẽ rơi vào sự chi phối của Tây phương. Các quốc gia Tây
phương không có những nhu cầu phát triển. Tây phương lại
đang theo đuổi một chính sách biến các cựu thuộc địa thành
những đồng minh trong cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây
phương. Những phương tiện dồi dào được Tây phương sử dụng
vào các chương trình viện trợ mà chúng ta đều biết.
Nhưng,
mặc dù như vậy, chúng ta cũng phải ý thức rằng, nếu chúng ta
lọt vào sự chi phối hoàn toàn của Tây phương, cơ hội phát
triển cũng có thể mất, bởi vì những mâu thuẫn phát sinh ra
cơ hội sẽ mất đối với chúng ta.
Như thế
thì, vì công cuộc phát triển của dân tộc bằng cách Tây
phương hóa, mà chúng ta phải thực hiện cho kỳ được, thái độ
thứ nhất nói trên đây không thể chấp nhận được.
Thái độ thứ hai
Thái độ thứ hai
Giả sử
chúng ta chọn thái độ thứ hai.
Sau khi
đã thừa nhận một tình trạng thực tế mà chúng ta không chủ
động được, hai phần sẽ dốc hết nỗ lực của mình để thực hiện
riêng công cuộc phát triển cho phần, và bằng đường lối của
mình chủ trương. Cơ hội phát triển hiện nay vẫn còn vì cuộc
tranh chấp Tây phương và Nga Sô chưa chấm dút, thêm vào đó
cuộc tranh chấp, Tây phương, Nga Sô và Trung Cộng vừa phát
sinh.
Hơn nữa,
vì hai bên Tây phương và Cộng Sản đều muốn chứng minh tính
cách hiệu quả của phương pháp phát triển của mình, hai phần
Việt Nam sẽ đương nhiên được hưởng nhiều viện trợ kỹ thuật
và tư bản.
Tuy
nhiên, thái độ này sẽ không tránh được hai khuyết điểm. Hai
công cuộc phát triển kinh tế và kỹ thuật, quan niệm riêng
cho hai miền, cho thích nghi với nhau trên lĩnh vực toàn
quốc không? Công cuộc phát triển dân tộc gồm sự thâu nhận
những giá trị tiêu chuẩn mới. Nếu hai phần phát triển theo
hai phương pháp khác, cố nhiên các giá trị tiêu chuẩn cũng
khác nhau. Như thế, sự phát triển thành công có là một trở
lực cho sự thống nhất trong tương lai không?
Khuyết
điểm thứ nhất không quan hệ bởi vì một chương trình phát
triển kinh tế có thể quan niệm vừa rộng cho nhiều xứ và vừa
hẹp cho từng xứ. Và kinh tế và kỹ thuật mà hai phần đều thâu
thập, cùng là kinh tế và kỹ thuật của Tây phương.
Khuyết
điểm thứ hai, liên quan đến lĩnh vực tinh thần của công cuộc
phát triển, quan hệ hơn nhiều. Và có cơ biến thành một trở
lực cho sự thống nhất dân tộc sau này hơn.
Tuy
nhiên, chúng ta đã chứng minh rằng một công cuộc phát triển
dân tộc bằng cách Tây phương hóa không làm mất bản chất dân
tộc. Như thế, mặc dầu miền Nam phát triển theo kiểu Tây phương,
và miền Bắc theo kiểu Cộng Sản, hai miền vẫn không mất bản
chất dân tộc.
Bài học
của Nga Sô lại cho chúng ta thấy rằng, mặc dầu các giá trị
tiêu chuẩn của Cộng Sản đối chọi với các giá trị tiêu chuẩn
của Tây phương, nhưng các giá trị tiêu chuẩn của Cộng Sản là
những giá trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn có mục đích
huy động quần chúng, hậu thuẫn cho chế độ độc tài của Đảng
Cộng Sản, để thực hiện công cuộc phát triển.
Một khi
mục đích phát triển đã đạt, Nga Sô, chính vì sự tồn tại của
xã hội, đã bắt buộc phải thay thế những giá trị tiêu chuẩn
chiến lược và giai đoạn bằng những giá trị tiêu chuẩn thích
nghi với di sản tinh thần của văn minh nhân loại.
Đã như
thế thì, một khi mục đích phát triển đã đạt, một điều chắc
chắn là miền Bắc sẽ thay thế các giá trị tiêu chuẩn chiến
lược và giai đoạn và các giá trị tiêu chuẩn của hai miền sẽ
không khác nhau. Chỉ có một điều là, sự thống nhất chỉ có
thể thực hiện được khi nào mục đích phát triển đã đạt.
Như thế
thì vấn đề đã sáng tỏ. Vì sự sống còn của dân tộc, thế hệ
của chúng ta phải nắm cho được cơ hội hiện tại phát triển
dân tộc bằng cách Tây phương hóa. Trong hoàn cảnh chính trị
hiện tại của quốc gia, chúng ta có thể nắm được cơ hội, nếu
chúng ta loại bỏ mọi xúc động tâm lý và mọi toan tính lợi
dụng chính trị ngắn hạn, can đảm nhìn thẳng vấn đề phân chia
lãnh thổ và nhìn nhận rằng phải tạm thời giữ nguyên tình
trạng đến khi mục đích phát triển đã đạt riêng cho hai miền
Nam và Bắc.




No comments: